Hiển thị các bài đăng có nhãn Tài liệu. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Tài liệu. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 16 tháng 5, 2015

Published tháng 5 16, 2015 by ana03 with 0 comment

Thế giới vong linh

Thế giới vong linh Trong “đạo” có “thuật”. “Đạo” là nền tảng tri thức hướng dẫn căn bản, “thuật” là công cụ để bảo vệ, giúp phát triển & mở mang hiểu biết và sức mạnh của “đạo” hay người học “đạo”.

Ví dụ, kungfu Thiếu Lâm Tự là “thuật” dùng để cường thân luyện thể, giúp các sư sãi được tu tập tốt hơn và tự bảo vệ mình cũng như những người xung quanh trong các điều kiện khó khăn hay khắc nghiệt. Môn Tử Vi cũng là một “thuật” trong “đạo” lý nhân sinh.

Không hiểu biết về “đạo”, hay có “đạo” không đến nơi đến chốn thì không nên học “thuật”, vì có “thuật” mà vô “đạo” sẽ: nhẹ thì, dễ bị “tẩu hỏa nhập ma” mang hại cho chính mình, nặng thì là nghiệp chướng nguy hiểm khôn lường của xã hội, là “tà đạo” – đúng như anh đã chia xẻ. Vì thế, những người mưu cầu tìm “thuật” mà không học “đạo” kết cục sẽ không tốt. Như tôi đã nhắc đi nhắc lại ở nhiều bài trước mà chắc các bạn đã đọc qua: mọi sự do “duyên” và nên để tùy “duyên”. Không phải ai học “đạo” sẽ biết “thuật” và ngược lại. Trên con đường của “đạo”, “thuật” đến với mình hay không là do “duyên”.

Trong đạo Thiên Chúa có các phép cầu nguyện sức mạnh (power prayer), mời gọi Thánh Linh (Spirit), ơn tứ nói tiếng lạ (Speak in Tongue), tiên tri (Prophecy), trị và trục quỷ (Exorcism) khi chúng ám hại con người, nhưng không phải hầu hết mục sư hay linh mục nào cũng biết hay làm tốt (skillful) những “thuật” này. Trong đạo Phật cũng có nhiều “thuật” tương tự hay phong phú hơn, và không phải người tu hành nào cũng biết hay thông thạo những “thuật” đó. Và từ đó sinh ra giữa những người cùng “đạo” với nhau: có lắm trường hợp “ghen tị ganh ghét” giữa người có “thuật” và người không biết “thuật”! Và cũng có người mạo nhận rằng mình biết “thuật” để tạo ra “uy tín” riêng cho mình giữa các bạn đồng “đạo” đó.

Khi các bạn học “đạo” đến một mức độ tương đối, và muốn tiến xa trên con đường học “đạo” đó (dù là bạn chọn bất kỳ “chánh đạo” nào), việc tiên khởi là tâm bạn “không chấp” (Thiên Không) và hòa nhã vui vẻ với tình yêu thương (Hồng Loan) trong bất kỳ mọi việc: học hành, câu nói, đối xử với cha mẹ, vợ chồng, con cái, anh em, bạn bè, đồng nghiệp và những người xung quanh. Khi “tâm” bạn đã “nhập” được Thiên Không, lúc đó cung Huynh của bạn sẽ xuất hiện Thái Tuế, và Nô sẽ dĩ nhiên là Tuế Phá – sẽ có cật vấn, lý luận, phản biện, bài bác, chỉ trích v.v… của mọi người “Huynh-Nô” đó xung quanh bạn, nhưng không sợ !

Thế giới vong Linh

The spirit and the extra dimension từ quan điểm lý thuyết siêu dây trong không gian 11 chiều.

Tuy mỗi hệ thống tôn giáo trên thế giới đều “bất đồng ý kiến” về sự sinh hoạt & mục đích của các Vong Linh (VL) , đa số đều công nhận sự “tồn tại” chung của VL & các giới “thiện” & “ác” song song với quá trình “sanh” & “tử” của con người. Theo tôi biết thì VL cũng chia ra nhiều chủng tộc như thế giới con người. Nếu như các VL gốc “Việt nam” có vị thánh cai quản sự sống & chết, thì các VL gốc “ngoại quốc” cũng có vị có chức năng tương tự ! Rồi sự “khác biệt ngôn ngữ” giữa các chủng tộc VL, tuy đều là có sự liên thông chung ít nhiều về “tâm”.
Thế giới VL là có thật, nhưng tùy theo tôn giáo & văn hóa, và cả sự “văn minh” của các dân tộc trên thế giới mà hiểu biết về thế giới VL này bị giới hạn, bóp méo hay thông thoáng. Với trí thức ngày càng được nâng cao trong thế giới “con người”, chúng ta sẽ càng có nhiều phương tiện & thông tin để giúp chúng ta tìm hiểu ngược về nguồn gốc của chúng ta trên đời này – về thế giới VL.

VL là một thể dạng có tính chất đầy đủ nhất của một “người” & như tôi đã nói, không bị gò bó bởi chướng ngại vật lý khi dịch chuyển trong thế giới con người. Khi chúng ta được “đầu thai” làm kiếp người này bằng xương bằng thịt, thì VL trong cái xác con người đó đã bị ức chế khá nhiều – giống như 1 cỗ máy bị tắt đi một số chức năng. Bởi thế đã có câu than vãn: “con người không hoàn hảo”. Cũng dễ hiểu thôi, xác con người là một vật thể tập hợp bởi hóa chất (hormone) và các phân tử và tế bào, chịu sự giới hạn & ảnh hưởng vật lý trong cái “khung cấu trúc” đó, cho nên VL khi đầu thai vào cái xác đó thì cần thiết phải “điều chỉnh” các “thông số” nhất định để VL có thể “hoạt động” trong suốt “chu kỳ tồn tại” – hay còn gọi là “tuổi đời” – của cái thân xác đó. Chính vì bị “tắt” / “ức chế” đi phần nhiều các “thông số” sau khi “đầu thai”, cho nên các VL trong xác con người đó bị “quên” đi mình là ai, kiếp trước (lúc còn ở dạng VL) mình đã làm gì, ở đâu, quen với ai v.v… Trong một số huyền thoại, người ta cho là VL bị “uống thuốc lú” để quên đi mọi thứ trước khi làm người !

Tử vi giống như 1 “bản đồ” giúp chúng ta hiểu được phần nào bí mật của VL trong thân xác con người. Có rất nhiều “bản đồ” (Tử Bình, Mai Hoa, Dịch số, Tướng số v.v…), mỗi môn cho ta thấy 1 khía cạnh khác nhau về “cái nghiệp”, “tính chất” & “sứ mệnh” của VL đó trong cuộc đời này. Không bản đồ nào hoàn hảo cả, & các bản đồ đều “hỗ trợ” cho nhau, phác họa mỗi kiểu về chân dung con người đó, và cả VL trong đó nữa. Và như tôi cũng đã nói, không có một “bản đồ” nào trên đời này, dù “hay” đến mấy, có thể vượt qua được “thiên cơ tối hậu”. Bạn hiểu được điều này là coi như bạn đã hiểu Tử Vi được 1/3 đoạn đường ! “Thiên Cơ tối hậu”, tôi nói nôm na là “kết quả thật sự sau cùng”, là 1 điều rất kỳ diệu. Tôi đã thấy nhiều trường hợp mọi môn huyền bí (tử vi, chỉ tay, tử bình v.v…) đều tập trung nói người đó “chết”, nhưng người đó vẫn “sống” hây hây đến đầu bạc răng long. Nhiều trường hợp khác thì ngược lại … v.v…

Trở lại chuyện VL bị ức chế trong hình dạng con người … Sự ức chế có khi không “tuyệt đối” và trong nhiều trường hợp thì có “kẽ hở” … “Kẽ hở” đó chính là những gì mà chúng ta thấy trong “tiềm thức”, hay những “quán tính” mà chúng ta không tự giải thích được. Ví dụ, khi ta gặp một người hay một tình huống hoàn cảnh nào đó thấy thật “quen” và thân thuộc làm sao (nhưng thật sự ta chưa bao giờ gặp hay trải qua trong đời người!) – déja vu – thì đó thường là những gì mà chúng ta từng trải qua trong dạng VL. Một số bạn có lẽ đã biết nhiều về hiện tượng “tiền kiếp” của những đứa bé sinh ra rồi bộc lộ những suy nghĩ, câu chuyện, cảm xúc của 1 người nào đó đã quá cố.

Ngoài ra, khoa học đã tuyên bố rằng đa số con người không sử dụng hết 1/10 bộ óc của mình trong đời, và đã nhiều năm nay dù đã cố gắng rất nhiều, người ta vẫn không sao có cách “khui” được & “trưng dụng” được cái 9/10 phần bộ óc còn lại trông có vẻ như là “phung phí” kia ! Điều này rất hợp lý, vì bộ óc là “căn cứ địa” của 1 linh hồn / VL trong thân xác người đó. 9/10 phần đó chính là những phần đã bị “ức chế” trước khi “đầu thai” rồi … Tôi nghĩ nếu mà “khui” được thì không khéo con người sẽ trở thành … “cái xác không hồn” mất thôi !

Vong linh (VL) cũng là người, khi ta chết thì ta thành VL. Khi ta chào đời thì đó là 1 quá trình luân hồi từ VL sang hình thể con người – ta còn gọi là “đầu thai”. Ngoài VL, ta còn có Thần, Thánh, Phật v.v… là những vị khách đặc biệt ở tầng lớp cao hơn VL, thỉnh thoảng “xẹt” qua chỗ ta ở trong 1 số trường hợp – nói nôm na như vậy cho dễ hiểu. Ta không nên gọi VL là “ma”, mà “VL” là tên gọi đúng đắn kính trọng nhất.

Nói về khoa học, giữa thế giới 3 chiều vật chất mà chúng ta đang sống & thấy được, có 1 chiều thứ 4 nữa, và đó là chiều không gian mà các VL đang tồn tại. Chúng ta không thấy được không gian thứ 4, nhưng các VL ở đó lại có thể thấy chúng ta. Giống như ta đứng nhìn con cá dưới ao: nếu con cá gần mặt nước thì ta thấy con cá, nhưng nếu con cá lặn sâu thì ta không thấy cá nữa, nhưng con cá thì dù lặn hay không lặn dưới nước thì cá vẫn đều thấy chúng ta trên bờ ! VL thấy chúng ta cũng giống như con cá nhìn lên bờ vậy đó. Khi VL muốn chúng ta “thấy” họ thì VL đó đi đến gần chỗ giao nhau giữa các chiều không gian, cũng giống như con cá kia nổi lên gần mặt nước hơn.
Thường thì các VL ở chiều không gian thứ 4 không được “can thiệp” trực tiếp vào cuộc sống của con người. Họ chỉ có thể “độ trì” để tạo phúc cho những lần luân hồi sắp đến. Càng tạo phúc thì sự luân hồi (lên tầng cao hơn, gần hơn với các bậc Thánh, Thần, Phật v…) sẽ đến nhanh hơn … Tuy nhiên có những trường hợp VL có sự day dứt, ân oán hay tư thù với người nào đó từ 1 hay nhiều kiếp trước, hoặc người đó trong đời này tạo ra nghiệp chướng mới (giết người, đụng xe, chiếm đất mộ xây nhà, tự tử v.v…) dù là cố ý hay vô tình, thì VL đó sẽ “xé rào” bất chấp mọi hậu quả (trong vòng luật luân hồi) để tác động vào thế giới con người xác thịt như: “ám”, “nhập” vào người nào đó, “khiến” một sự việc xảy ra, hay “hiện thân” (làm “bóng ma”) vào thế giới 3 chiều của con người. Có những VL là bậc cha mẹ vẫn còn lo lắng cho cuộc sống con cái trên trần thế và họ quyết định đi theo để “độ” cho bầy con đó cho tới khi họ thành công. Có những VL bị tước mất quyền sống 1 cách oan uổng (cướp, bạo lực) thì họ đi theo thủ phạm để có ngày lật mặt nạ hắn ra v.v…

Có người xấu người tốt thì cũng có VL xấu VL tốt – và dù tốt hay xấu thì người hay VL đều phải tiếp tục tu tập cho tâm được tốt để được luân hồi ở những vòng cao hơn. Do quy luật chung “âm dương cách biệt” cho nên đa số mọi người sống đều thiếu hiểu biết đúng đắn về vấn đề VL, cũng như “thế giới bên kia”, nên xã hội sinh ra nhiều tệ nạn mê tín dị đoan chủ yếu là để lừa bịp nhau. Số người biết đúng về thế giới VL hiện nay rất ít, chỉ đếm trên đầu ngón tay – đa số trong số họ không có trong một “hội đoàn ngoại cảm” nào cả.

Về vật lý, VL chỉ có khác với người là không bị giới hạn bởi vật chất như bê tông cốt sắt, cho nên họ rất tự do trong việc đi lại. Sau khi căn nhà được giải tỏa & kiến trúc mới được xây dựng lên, VL vẫn có thể còn ở đó hoặc đi nơi khác, hoặc thậm chí có thêm những VL mới đến cư ngụ. Điều này giải thích tại sao có một số những kiến trúc (nhà cửa, căn hộ, cầu đường, vườn đất, bệnh viện v.v…) dù là mới toanh mùi sơn bóng láng, nhưng vẫn có thể có những khu vực trong đó có tụ tập nhiều “âm khí”.

Thế giới linh hồn trong extra dimension và sự di chuyển giữa các parallel universe của linh hồn

Và cũng vì thế, đối với VL, “nhà” của họ không bị giới hạn bởi “nhà” của chúng ta … Nếu nhà của bạn là 4m x 20m ở địa chỉ 20X đường YY, quận ZZ, thì điều đó không có nghĩa là “nhà” của các VL (ngay cả VL trong gia đình của bạn) cũng là ở ngay địa chỉ tọa độ đó. “Nhà” của VL ở một “địa chỉ” khác, trong chiều không gian khác với chúng ta. Như bạn TNT cũng có chia sẻ, VL trong nhà thường là các VL của gia đình nhà đó, điều này đúng, nhưng cũng không hẳn lúc nào cũng vậy. Tôi xin phép xác định là: VL về nhà mình là để “độ” hay “thăm” mình (thích thì về thường xuyên hơn), nhưng phần nhiều là “nhà” của họ ở 1 chỗ khác. Vì VL di chuyển rất nhanh, như tốc độ ánh sáng, việc hiện diện từ nơi này qua nơi khác chỉ xảy ra trong tích tắc.

Ngoài ra, nếu nhà nào cũng thờ cúng ngọn ngành đầy đủ chuyên tâm thì nhà đó thường có “khách quý”, là những vị bậc cao hơn VL thường xẹt qua “thăm”, có vậy thôi. Dĩ nhiên, nhà có “khách quý” như vậy hoài thì VL lạ làm sao dám vào phá ?! Giống như nhà bạn đang ở thường có mấy chú công an ghé qua uống nước, tên trộm nào để ý thì cũng hơi ngán, có phải không ? Nhưng thực tế không phải nhà nào cũng có nếp sống như vậy.

Còn về VL trong cửu huyền tại sao có khi về và có khi không về nhà đó ? Đơn giản là con cháu họ hàng trong nhà đó có “tâm” để tưởng nhớ đến họ hay không ? Có những VL rất tốt, dù bị con cháu “bỏ rơi” lâu năm nhưng vẫn phò độ cho chúng, có khi là tai qua nạn khỏi, có khi là làm ăn phát đạt, có khi là xoay chuyển tâm ác v.v… Tuy vậy vẫn có những VL thì quyết định đi tu, hoặc đi đâu đó thật xa, không còn bận tâm đến duyên nợ hay liên hệ gì với người sống nữa.
Có nhiều lần tôi hỏi qua nhiều VL rằng nhà của họ ở đâu, tiền bạc, ăn uống, dịch vụ họ sinh hoạt như thế nào thì chỉ nhận được 1 câu trả lời như nhau: “Hỏi làm chi vậy !?” Qua tiếp xúc nhiều lần với nhiều VL, tôi quan sát & chỉ hiểu được rằng, các VL có 1 xã hội cũng rất phong phú như chúng ta ở một chiều không gian khác song song với chiều không gian của chúng ta. Họ ăn rất ít, sống rất đơn giản, cũng có những chi tiêu trong sinh hoạt. Họ cũng có bệnh, cũng được chữa khỏi, cũng thèm hút thuốc, cũng nhớ thịt quay v.v… Tất cả đều có “bán” trong thế giới VL và đều “mua” được bằng “tiền” … Có VL ăn cơm chay mãi trong chùa … ngán quá (!) bèn đi ra ngoài ăn đồ mặn … Sinh hoạt hết sức bình thường …

Nhưng tóm lại, tôi thấy việc “xem tử vi” để đoán “nhà có VL” là một việc không đúng thực tế, vì VL có ở mọi nơi như con người vậy thôi. Việc gán ghép tử vi để xem chuyện VL trong lá số của người sống nào đó thì cũng cần phải xem lại, vì ngay cả mỗi VL cũng có 1 lá số!

Vong Linh Nhập

Từ trước tới nay, có rất nhiều người có may mắn được VL “nhập” vào mình, thường là để giúp “độ”, báo trước một việc xảy ra trong tương lai, và thường là tương lai gần. VL của người mới qua đời có khi cũng “nhập” ngay vào 1 người thân, hoặc 1 người “có duyên” đứng gần đó, cũng chỉ là để muốn bày tỏ chuyện gì đó mà lúc trước họ đã không có cơ hội, hoặc còn day dứt chưa giải quyết xong.

Còn về cái tính “tò mò” của chúng ta “muốn biết ngày mai xảy ra chuyện gì” thì mình xin thưa với các bạn, VL không phải lúc nào cũng “báo” trước chính xác sự việc cho bạn đâu. VL chỉ có thể biết khoảng 10-60% sự việc mà thôi, còn lại là do “thiên cơ” quyết định . Trong thế giới tâm linh, VL chỉ cao hơn con người chúng ta 1 bậc, có thể biết được chút ít về tương lai gần, có vậy thôi. Còn việc “tối hậu” kết quả ra sao thì tùy ở “thiên cơ” và cũng do quyết định của chính con người trong hoàn cảnh đó. Chỉ có các bậc Thánh, Thần, Phật mới có thẩm quyền trên “thiên cơ” và dĩ nhiên những vị này không bao giờ bỗng nhiên “bật mí” ra cho VL hay con người biết cả. Cứ nhớ rằng tâm bạn tốt thì sẽ gặp chuyện tốt, nhân duyên cũng sẽ tốt. Còn nếu tâm ta tốt, nhưng cuộc đời đầy dẫy những bất công, thì cũng đừng quá buồn – tất cả là do chữ “nghiệp”, nếu tâm ta vẫn 1 lòng hướng thiện thì trước sau gì trong cái vòng luân hồi này thì ta cũng sẽ gặp cái “quả” đền bù xứng đáng.

Cho nên bạn thấy, 99.9% những người “nhập vong” & lấy tiền thân chủ thường thấy ở VN (bên Mỹ cũng vậy) đa số là … xạo ! Nhiều người “thầy” đúng là có “vong” nhập vào, tưởng là có thể biết được nhiều chuyện, nhưng đa số những thân chủ đó đâu hiểu được giới hạn của VL như mình vừa nói với các bạn đâu!

Có rất nhiều, nếu không muốn nói đến chữ “hầu như”, các trường hợp là VL “nhập” về theo kiểu “thương mại” đó hoàn toàn không phải là VL của thân nhân quá cố mà thân chủ muốn gặp, mà là 1 VL nào đó khác – có thể trong gia đình, “hàng xóm” hoặc ngoại tộc với người “thầy cho mượn xác” đó – “nhập” về. VL này lợi dụng sự tương thông về tinh thần giữa các VL với nhau để nhanh chóng “hỏi thăm” các VL khác về hoàn cảnh cũng như tình hình sự việc, rồi có thể tự mình hoặc nhân danh “đóng vai” thân nhân của người thân chủ để trả lời cho thân chủ biết ! Thật là 1 trò lừa đảo chỉ mang nghiệp chướng cho cả đôi bên: người “thầy” và VL đó … Có lúc chính tôi cũng rất bức xúc, nhưng nghĩ lại thì cũng có tình lý của nó: có nhiều khi VL làm vậy chỉ để giúp đở về tài chánh qua ngày cho người thầy nghèo khổ đó. Chỉ tội nghiệp & đôi lúc nực cười cho các thân chủ phải lặn lội đường xa, chen chúc “xếp hàng”, tốn “tiền tổ” cũng như tiền mua nước ngồi chờ + tiền cho mấy anh chị bán vé số dạo + tiền xăng xe cộ v.v… để rồi chỉ để chứng kiến cái trò lừa đảo tâm linh một cách tinh vi này !

Nói thêm về mức độ chính xác của VL, tôi đã nói chỉ khoảng 10%-60%, và điều này luôn luôn đúng. Điều này có nghĩa là cứ 10 chuyện, sẽ có 1 cho đến 6 chuyện trên 10 chuyện đó xảy ra đúng 100%. Nếu độ chính xác cao hơn, như 100% trong trường hợp của 1 số người (nghĩa là đúng hết 10 chuyện), thì đó là chắc chắn do có 1 vị có bậc cao hơn VL đó đứng sau mách bảo, hoặc cho phép VL đó nói ra hết sự thật. Ngay cả sự chính xác 100% cũng có tính chất rất “tương đối” – y như thuyết “tương đối” của nhà bác học Einstein. Tóm lại theo quy luật định sẵn, VL không thể biết đến “thiên cơ tối hậu” (ngay cả tử vi cũng vậy), và nếu có biết thì VL không được “tiết lộ thiên cơ” nếu không được phép của 1 vị có thẩm quyền cao hơn. Ngay cả việc VL “nhập” vào 1 người lắm khi cũng có sự đồng ý của 1 vị cao hơn, không phải VL nào cũng được quyền tùy tiện muốn “nhập” lúc nào là “nhập”. Thế giới VL xem vậy nhưng cũng là 1 xã hội có tổ chức rất chặt chẽ.

Câu hỏi: – Ở chỗ mẹ con đăng ký giao lưu thì các VL nhà mình cứ ra rồi nhập vào chỉ 1người sống là thành viên trong nhà hay trong họ thôi ạ. Nhưng như con đọc bài thì thường mỗi VL chỉ hợp có 1 người .
Nghe đến chữ “đăng ký giao lưu” (ĐKGL), tôi nghĩ đến ngay 1 chỗ “cầu hồn” có tính chất thương mại. Như tôi đã trình bày, bạn nên cẩn thận với các nơi này vì theo tôi quan sát, 99.9% là giả mạo + lừa bịp tâm lý, và thường là nạn nhân chỉ biết mình bị bịp SAU KHI chuyện đã xảy ra, sự đã rồi, tiền đã mất, tật đã mang. Có rất nhiều cách để nhận ra, nhưng có 1 quy luật bất di bất dịch đó là: tự hỏi mình xem bạn sẽ “tốn” bao nhiêu sau khi đến những chỗ ĐKGL này ???

Nếu VL nhập vào một người nào đó bạn chưa từng gặp qua, rồi bảo đó là “ông nội” của bạn … Nếu thật sự là “ông nội” thì “ông” không giúp “cháu” có thêm tiền thì thôi, chứ sao lại lấy tiền của “cháu”, nhất là khi cháu đang … nghèo (!), và tiền đó chạy thẳng vào túi của người cho “mượn xác” không quen không biết đó ! Có nhiều trường hợp VL nhập vào người “cho mượn xác” và “bắt” cho thân chủ phải “cúng ngay” 1 số lễ vật hay “nhang đèn” rất đắt tiền, và thường các thân chủ bị “cho giá” đắt hơn giá trị thật sự (ngoài thị trường) của các món đồ cần phải “cúng”, có khi là vượt ngoài khả năng của thân chủ v.v… Nói chung, càng mua đồ cúng thì thân chủ càng “nghèo” thêm, và có vẻ như “ông nội” hoàn toàn vô tâm không biết gì về hoàn cảnh thực tế của “cháu”! Thấy “cháu” ăn mặt sạch sẽ quá, đi xe “láng” quá, làm “nội” tưởng cháu là “đại gia” hay Việt kiều (VK) gì đó nên “nội” … chặt đẹp ! Cho dù bạn có là “đại gia” hay VK thật, việc cúng kiến đắt tiền trên giá trị thật sự cũng đã nói lên phần nào sự bịp bợm của những chỗ ĐKGL này ! “Hồn (tiên) xuất ra, thì ta xuất tiền” – đó là quy luật lừa đảo về tâm linh của những chỗ này.

Nếu VL theo độ bạn thật sự, ngoài việc cúng kiến trong những ngày rằm (mỗi tháng) hay giỗ (mỗi năm) để tỏ lòng kính trọng thương nhớ trong khả năng kinh tế và thời gian của bạn, bạn có thể mời VL đó cùng ăn với bạn trong các bữa ăn mỗi ngày. Mời VL “ăn” trước, trước khi bạn cầm đũa lên. Và không nên mời đồ ăn đã cũ đã dùng qua 1 bữa. Mời xong cũng nên chừa chút thời gian để cho “người ta ăn”, không nên vừa dứt lời mời đã cầm đũa “xực” liền ! Đây là một cách “cúng” rất thực tế, rẻ tiền, không cần nhang đèn gì cả, và phù hợp với mọi người ở bất kỳ nơi nào. Nói như vậy là không có nghĩa là không cần đến những nghi thức như cúng rằm, giỗ v.v… Đây là tùy ở “tâm” của bạn. “Tâm” bạn có thiện chí thì VL sẽ thấy ngay & rất quý điều đó, cho dù bạn không đủ khả năng kinh tế hay có gì sơ suất trong nghi lễ mà bạn làm. Như tôi cũng đã nói ở các ngày trước, “tâm” là quan trọng trên hết trong thế giới VL.

Nếu VL giúp, thường là sẽ giúp một cách “vô vụ lợi”, hoặc không ngoài khả năng của chúng ta, chủ yếu nhắm vào chữ “tâm” (chứ không làm cho chúng ta trở nên “cuồng tín” hay “sùng đạo” rồi làm những hành động bất thường, trái với sinh hoạt bình thường của một con người!). Giống như trước bàn thờ Phật, một cây nhang với “tâm” thành quý hơn một người khác cầm cả bó nhang nghi ngút để khấn vái ??? Nếu VL có cần gì chúng ta giúp họ (như sửa mộ, lập bàn thờ, cúng 1 số đồ ăn mà họ thích khi còn sống với chúng ta), thì VL cũng yêu cầu rất tế nhị và không bao giờ ngoài khả năng của chúng ta, vì bạn luôn nhớ rằng VL lúc nào cũng thấy xuyên vào trong tâm thức của chúng ta đang nghĩ gì và đang gặp khó khăn gì v.v…
Một trong những cách nhận biết việc VL nhập giả hay thật đó là qua cặp mắt. Trong tử vi, đó là “Thái Dương” & “Thái Âm” các bạn đã biết, … Như người ta thường nói, đôi mắt là “cửa sổ của tâm hồn” – chính xác là như vậy. Trái với suy nghĩ của nhiều người, khi VL nhập vào thì người đó thường nhắm mắt (nhập trên 50%), không có việc mở mắt trân trân lơ láo phân tâm với mọi việc xung quanh – nhất là trông chừng … công an ! Và nếu có mở mắt (nhập dưới 50%) thì mắt sẽ bị ửng đỏ hoe, “long” lên bất thường, giống như mắt của người bị thiếu ngủ, và mắt đó sẽ trở lại bình thường ngay lập tức sau khi VL “xuất” ra.

Cho nên, có lần trên mạng tôi thấy có đoạn video nói về 1 bà nào đó được “bác Hồ” nhập vào, rồi mở mắt ra bình thường, nói chuyện chính trị thao thao bất tuyệt. Nói chung, quan sát thái độ của bà này, tôi thấy thật buồn cười cho những ai không biết mà tin vào những người như vậy !

Tìm người có sẵn khả năng, hay huấn luyện “tập thể” để có nhiều người mới từ từ có khả năng ?!? Tinh thần “truyền bá” & “phổ biến cộng đồng” là một điều tốt, nhưng không phải lúc nào cũng áp dụng được, nhất là trong lãnh vực tiếp xúc với VL này. Theo tôi thấy, tổ chức “huấn luyện” kiểu “xưởng đẻ” này dễ sinh ra nhiều tiêu cực lắm, mặc dù những “thủ tục nhập vong” mà bạn “nguyenhongvan” mô tả đúng là một số quy luật “sơ đẳng” để mời VL “về”. Trạng thái “không biết gì” sau khi VL đã “xuất” ra cũng rất chính xác khi VL nhập vào trên 80%. Điều bạn kể về nơi này giải thích tại sao hiện nay tràn lan ở VN và một số nơi ở hải ngoại, có rất nhiều người chỉ hiểu vấn đề tâm linh ở mức độ rất “vỡ lòng”, nhưng đã “xưng hùm xưng bá” tại địa phương mà họ ở – già trẻ lớn bé đều đủ cả ! (rồi tạo ra biết bao tệ nạn mê tín dị đoan méo mó lường gạt) Theo “điều tra” riêng của tôi cho thấy, họ dường như cùng xuất xứ từ một “lò”, “hội đoàn” hay một luồng “phong trào” nào đó ở VN … Cả một loạt vô số các “thầy” bói bài ở VN cũng vậy.
Việc VL nhập vào, hay người có khả năng tự nhiên mời VL nhập, hoặc người có cơ hội được người khác truyền dạy cho khả năng là một việc do “duyên”, hơn là 1 sự “cưỡng ép giáo dục” tựa như hình thức ta phải “đi học ở trường, có bạn bè, và thầy cô giáo dạy”. Nếu bạn thật sự đã có “duyên” với chuyện VL này, thì đến 1 lúc nào đó trong cuộc đời bạn, việc tiếp xúc với VL sẽ xảy ra rất ngẫu nhiên, không cần phải chủ ý “đi học”. Đến lúc đó, bạn không muốn biết thì bạn cũng sẽ biết, bạn không muốn học thì cũng có người tự nhiên truyền dạy cho bạn, bạn không cần cầu kiếm VL mà lúc đó VL sẽ kiếm bạn & “xin” được đi theo hay “vào” bạn ! Người ta vận động “nhân điện” gì đó, hay ngồi “thiền” … cả đời (!) mới chỉ biết ti tí về vấn đề + khả năng tâm linh, trong khi thực tế chỉ cần nhiều nhất là vài năm để nắm vững xuất sắc các môn pháp về tâm linh một khi bạn được hướng dẫn và học đúng “chính quy”. Trong các môn pháp tâm linh này (căn bản đều dựa trên Phật Pháp), “tâm đức” và ngộ tánh (“huệ căn”) càng cao thì sự học tập chuyện sâu & khả năng càng “xuất thần” ! Giống như chuyện kiếm hiệp có một số anh hùng võ thuật cao cường do học được các “bí kiếp” từ các “quý nhân” một cách bất đắc dĩ ngoài ý muốn. Thật sự cái lý “duyên” ở đời này là như vậy. Không “duyên” thì ta đừng “miễn cưỡng”

Ngoài ra, không phải ai ngồi “thiền” hay mời VL nhập vào mình thì cũng sẽ được VL nhập, và không phải ai được VL nhập vào rồi thì cũng “nhập” đúng người mình cần “nhập” – và đây chính là “con dao hai lưỡi” rất nguy hiểm đối với người “học vỡ lòng” chưa hiểu chưa biết đến nơi đến chốn, hoặc được hướng dẫn có bài bản. Tôi đã gặp khá nhiều trường hợp VL trong gia đình đó không (“thèm”) nhập vào, nhưng nhờ “bạn bè” của VL đó, hay ai khác lảng vảng gần đó có “nhã hứng” thì “nhập dùm” (!), vì đơn giản là VL đó không thích chính người đó hay việc gặp lại người dương, hay vì một lý do nào khác.

Câu hỏi:Nhưng bác ơi làm sao để biết có người theo mình ạ.Vì con chưa bao giờ nhìn thấy ạ. Kể cả lần đi giao lưu đó.
Thấy chưa ? Nguy hiểm là ở chỗ đó. Thật ra có hẳn 1 môn học riêng để giúp ta tận mắt “thấy” được VL “đối tác” của mình đang tiếp xúc là ai. Khổ nỗi, tôi biết có một số người biết cái môn pháp này (và họ thường dùng nó trong việc “tìm mộ”), nhưng lại rất kém sở trường ở những môn khác, ít người tổng hợp được & giỏi đồng đều (người “giỏi” không những biết “pháp” mà còn phải có “đức” nữa!). “Thấy” & nhận diện VL được rồi thì làm sao nữa ? Nếu “thấy quen” thì làm sao, và “thấy lạ” thì phải làm sao ? Tất cả các “tình huống” đều có “môn pháp” để “xử lý”.

Các môn pháp cũng vậy, chia ra làm 2 phe chính “chánh” & “tà”, và một số trung lập.

Các môn của phe “chánh” khi học xong thì bạn vẫn có thể sống, giúp đở người khác (vô vị lợi) & sinh hoạt trong đời thường, không nhất thiết phải trở thành “tu sĩ”.

Còn các môn thuộc phe “tà” – thường thấy ở VN – khi học xong thì sẽ có “hậu quả hy sinh” hoặc làm chuyện “tà đạo” ác độc (vì thiếu “đức”): có người đang có vợ thì bỏ vợ trở thành “pê đê”, có người phải chịu 1 số thương tật không phải bẩm sinh, có người ban ngày sống bình thường còn ban đêm thì “sinh hoạt tình dục” với VL, có người sinh chứng “dê” dụ dỗ đàn bà thiếu nữ (nếu là nam) hay “trai tơ” (nếu là đàn bà) làm “nô lệ tình dục” cho mình, có người tạo hẳn cho mình một đạo quân “âm binh” chuyên đi làm chuyện ác hoặc dò la tin tức, v.v…

Phổ biến là có rất nhiều thầy bói cũng biết chút ít “tà đạo” về VL để phục vụ cho “uy tín” của mình, tôi cũng xin tản mạn kể một số ví dụ “giở chiêu” của các “thầy” ở đây. Đầu tiên, họ xem bói bài (hoặc tử vi gì đó) gọi là “qua loa” một chút “huyền bí” cho thân chủ. Do có chút “nghề” & kết hợp quan hệ với VL nên họ cũng biết chuyện xấu/tốt sắp xảy ra với người đó. Họ báo cho thân chủ biết về những chuyện “hay” & “tốt” trước để “làm tin” cho thân chủ. Sau khi thân chủ về rồi, họ sẽ dùng bùa chú, hay sai khiến “âm binh” (là một nhóm VL bị làm “nô lệ”) để làm cho thân chủ bị “xui” đi để thân chủ đó “thấy ông thầy đó đoán đúng quá”, rồi lại phải trở lại để được “tư vấn” tiếp. Có khi không cần tới bùa chú hay VL, “nghề” của họ cũng có khi thấy được “chu kỳ xui” của thân chủ, rồi tùy đó mà các thầy “ứng biến”. Trở lại “xem quẻ” vài ba lần mà vẫn “xui” thì họ “bày” qua chuyện “cúng sao” hay “giải hạn”, thường là 1 trò lừa đảo để moi tiền thân chủ. Có người “giải hạn” liên tục nhiều lần trong 1 tháng mà vẫn thấy toàn … “xui” vẫn hoàn “xui” !??! Hoặc họ phán rằng “cô/bà có vong theo phá” nên cần phải được “giải vong” ! Nếu các bạn đã đọc & hiểu qua những gì tôi đã viết trong chủ đề này thì bạn thấy ngay, đây là chuyện hết sức nhảm nhí !!! “Giải vong” rồi thì ai “giải quyết” cái bụng bầu to chướng do thầy “tác giả” trong người em đây? Các VL “âm binh” & vị “thầy” kia hẳn sẽ lãnh một nghiệp quả rất nặng, không ở ngay trong đời này thì cũng là đời sau …

Trở lại đề tài trên, nguy hiểm cũng rình rập trong trường hợp “nhập” vào rồi thích quá (!) nên VL không chịu … “ra” (!), vậy thì phải làm sao đây ? Dĩ nhiên là có vài môn pháp để giải quyết cái vấn đề này một cách nhanh chóng, nhẹ nhàng & đơn giản, nhưng cũng rất hiếm người có khả năng, hay dù có khả năng nhưng lại thiếu chữ “đức” (của Phật Pháp), nên đa số các “thầy” thường giải quyết bằng “vũ lực” mà tôi đã nói, tạo thêm hậu quả “nghiệp” cho mình và cho VL đó. Cũng y như các tầng tâm linh của Phật Pháp, tưởng tu được 1 tầng đã là xong, nhưng lúc nào cũng có tầng cao hơn, hay tưởng lâu nay ta là “Phật tử ưu tú”: “coi như” cũng đã có “Phật Pháp đầy mình” thì chính cái lúc “tự mãn” đó thì ta đã không hiểu biết gì về “Phật Pháp” cả – “thái cực bĩ lai” cũng là như thế!

Quan trọng vẫn là do “tâm”. Bạn “thiền” vì lý do gì ? Vì lợi ích “cường thân luyện thể” hay vì một quyết tâm “phải học” cho được khả năng mời VL “nhập” ??? Nhìn lại chữ “tâm”, thiết nghĩ khi trưởng thành, ta cũng phải hiểu rõ ta sinh ra và có mặt trên đời này để làm gì: là để sống sinh hoạt bình thường như một người “dương” (như lá số Tử Vi cho thấy ), hay lại phải liên tục tìm cầu đến thế giới người “âm” để rồi nhờ họ đáp ứng các “yêu cầu” của chúng ta trong đời sống hàng ngày ??? Tuy VL có ở khắp mọi nơi, con người chúng ta có dịp tiếp xúc với VL ít nhiều gì thì cũng đã là 1 “đặc ân”, và “đặc ân” này không phải ai muốn cũng có được. Điều kỳ diệu của “đặc ân” đó là: bạn càng “không muốn” nó, thì bạn sẽ “có nó”. Hậu quả thường là không tốt (nếu không muốn nói chữ “khủng khiếp”!) khi điều ngược lại xảy ra (lúc bạn “muốn nó” – phạm vào chữ “chấp” trong Phật Pháp). Nếu đã không có “duyên” với “đặc ân” đó, tốt nhất là ta nên “thủ” lui về chính bản thân mình với ý niệm căn bản “ta sinh ra để làm gì ?” & hãy sống vui vẻ với nó. Còn chuyện gì khác, “có duyên sẽ gặp lại”. Nhớ chữ “duyên” nhé, và có “gặp” ai cũng vậy thôi, người trần mắt thịt, hay VL, dù là lúc ta còn “sống”, hay khi chúng ta “phải đi qua thế giới khác”.

Read More
      edit
Published tháng 5 16, 2015 by ana03 with 0 comment

Nhận biết biểu hiện quỷ nhập từ thô đến tế

Không ít người nhầm lẫn về quỷ sự. Họ cho là ma nhập, vong theo và ông bà quá cố ứng mộng…Gần đây những tờ báo phía Bắc viết về những hiện tượng nầy.
Thực hư như thế nào không thể bình luận vô căn cứ. Riêng ở Mật gia Song Nguyễn, trò Mật Thủy và nhiều trò khác đã thấy bằng chính mắt mình và viết ra bài “Quỷ nhập”, còn trò Mật Kiên cũng kể lại hiện tượng người thợ phụ biến sắc sợ hãi, phải lên lạy Phật rồi ngã bật ra sàn qua comment trong bài “Quỷ nhập”. Mật Hải, Mật Kiên, Mật Thủy cũng như nhiều trò khác đều thỉnh nguyện Thầy luận giải hiện tượng siêu nhiên nầy. Do vậy, Thầy nương theo oai thần của Đạo sư, Bổn tôn, Dakini, sẽ viết đôi điều về hiện tượng đó để tránh hiểu nhầm…

MA QUỶ LÀ AI?

Nhiều người thường nói mình thấy ma, sợ ma mà thực tế không phải vậy. Theo lý giải của đạo Phật, ma ở tầng trời cao nhất của cõi Dục giới, gọi là Tha hóa tự tại thiên. Bản chất của thiên ma được Đức Phật khẳng định nguyên nhân tái sinh như sau: “Không có tâm thế gian, chỉ đồng với thế gian mà làm việc ngũ dục; trong lúc làm việc ấy, rõ ràng là siêu thoát, thì sau khi mệnh chung, vượt trên tất cả những cảnh biến hóa và không biến hóa; một loài như thế gọi là Tha hóa Tự tại thiên” ( trích kinh Thủ lăng nghiêm Mục VI “Các cõi trời sai khác”). Vậy, ma là loài trời, gọi là thiên ma, thuộc loài Trời. Thiên ma thọ dụng tự tại, hoan lạc cả đời, ngụ ở lâu đài, điện ngọc thất bảo. Thức ăn của Thiên ma gọi là niệm thực. Có nghĩa là nghĩ đến món gì là hưởng được món đó. Đức Phật định nghĩa chung cho loài trời là hình thức bên ngoài tuy khỏi động nhưng tâm tính còn dính dấp, do vậy gọi là cõi trời Dục giới;(trích kinh Thủ lăng nghiêm) trong đó Thiên ma ở tầng trời cao nhất.

Nói như vậy để biết Ma ám chỉ là Thiên ma, một đối tượng có trình độ tâm linh cao. Tuy nhiên, bản chất của ma là “tha hóa” “kiêu mạn” thể hiện qua chuyên cướp đi những thành quả của kẻ khác để hưởng lạc bất chánh. Tuổi thọ của thiên mà từ hằng trăm triệu năm trở lên (tính theo lịch thời gian của loài người).

Ở loại Ma này có thiện và ác. Loại ma ác thường quấy nhiễu người tu hành có trình độ tâm linh cao bằng cách hóa hiện những ảnh tượng ghê sợ hoặc đáng ưa, khiến hành giả sợ hãi hoặc ham thích mà sa đọa. Riêng thiên ma là thiên chủ cõi Tha hóa tự tại thiên chỉ hiện ra phá hoại công trình tâm linh của người tu chuẩn bị đắc thánh quả đạo Phật. Đêm cuối trước khi thành đạo, Ma vương nầy hóa hiện đủ mọi thứ nhằm tấn công Đức Phật. Song, Ma vương thất bại. Như vậy, có thể kết luận rằng ma không phải tầm thường như nhiều người ngộ nhận. Họ nhầm lẫn ma là quỷ.

Quỷ là một trong 6 loài của cõi luân hồi (địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, người, A tu la, Trời). Nguyên nhân tái sinh làm Quỷ được  Đức Phật phân tích chi tiết trong kinh “Thủ lăng nghiêm”: “Lại nữa, A Nan, các chúng sinh đó (chỉ loài địa ngục) nếu không gây tội chê phá luật nghi, phạm Bồ tát giới, hủy báng Niết Bàn của Phật, mà chỉ phạm những nghiệp phức tạp khác, thì sau khi bị đốt cháy nhiều kiếp, đền tội hết rồi, thì chịu những hình quỷ”.

Quỷ chia là 2 hạng: ngạ quỷ  và quỷ oai đức còn gọi là quỷ thần. Ngạ quỷ gồm 36 loại quỷ được mô tả rõ trong kinh điển Phật giáo. Đặc điểm của ngạ quỷ luôn luôn bị đói khát hành hạ, nên còn gọi là quỷ đói. Thức ăn của quỷ đói là máu, mủ, đờm dãi. Hình tướng quỷ đói xấu xí như cổ họng bé, bụng lớn, chân lêu khêu. Có những loại quỷ thân người mà mặt heo, bò, trâu, rắn… Có những con quỷ lõa thể, xù lông, hôi hám. Tuổi thọ của quỷ ít nhất là 5000 năm cho đến 10.000 năm (tính theo lịch thời gian của loài người).

Loại quỷ đói ở đâu? Chúng ở trong xứ sở của loài quỷ đói, nhưng lại ngay trong cõi dương thế loài người. Chúng thường ẩn mình trong đồng hoang, nghĩa địa, nhà hoang, đầm lầy, ao hồ. Do bản chất của loài quỷ là chuyên gây hại kẻ khác, nên giữa các loài quỷ đói đã thường xuyên chơi xấu nhau, trong nhân gian lầm lẫn gọi hiện tượng này là “ma cũ hiếp ma mới”.

Song, quỷ đói thường sợ hãi vì bản chất đói khát của mình. Chúng cũng như những loài súc sanh, thường không dám xâm hại loài người, trừ một ít trường hợp bất khả kháng. Quỷ đói sống một cách khổ sở, có khi cả vài chục năm mới kiếm được một miếng ăn. Trong kinh điển Phật giáo có ghi lại rằng tôn giả Mục Kiền Liên gặp một con quỷ được nó tâm sự, rằng may mắn nhất của nó trong 11 năm qua mới kiếm được một ít thức ăn là cứt mủi của một vị tăng vừa chú nguyện.

Khác với loài ngạ quỷ, hạng quỷ oai đức còn gọi là Quỷ thần. Loài nầy có được chổ ở đường hoàng, càng có oai đức quỷ thần càng sung túc về phương diện cảm thọ và sinh hoạt. Những vị Quỷ vương trú ngụ trong lâu đài tráng lệ, có nhiều thê thiếp và người hầu, ăn uống tự do, thoải mái. Theo kinh điển Phật giáo loại nầy gồm (1) long (2) kim xí điểu (3) dạ xoa (4) mãng ma hầu la dà tức là “rắn thần” (5) a tu la tức là “thiên thần” (6) khẩn na la (7) càn thát bà Ông địa, thần tài là loại quỷ thần có oai đức, nhưng là loại quỷ thần bình thường không vai vế gì so với hạng Quỷ vương và hoàng tộc của họ. Loại quỷ thần có oai đức đồng cư với loài người trên dương gian, họ không phải là loài ở âm gian như loài địa ngục. Tuy nhiên, dù số lượng loài quỷ nhiều vô số nhưng họ và người không bị ngăn ngại lẫn nhau bởi họ là thân thể vía. Khi cần họ dùng quỷ nhãn để thấy con người, nhưng con người không thể thấy được loài quỷ.

Ngoài ra, chúng cũng thỉnh thoảng can thiệp vào sinh hoạt của loài người, bằng cách trà trộn vào thể xác con người thông qua những thói quen bị nghiện của họ. Loại Quỷ thần đôi khi thấy ai nhẹ vía, có nghĩa là người nào hợp tầng số tâm linh (trường sinh học) như những người đồng bóng, chúng sẽ nhập vào chiếm lĩnh linh hồn, sai khiến người ấy nói năng, hành xử cuồng loạn như kẻ khùng, người điên, hoặc nói theo ý bọn chúng. Chính vì vậy khi bọn quỷ thần oai đức ngao du trên cõi trần gian, thỉnh thoảng nhập vào người nầy, người nọ để đùa giỡn, thỏa mãn ý thích của mình. Có con quỷ tự xưng là ông thánh nầy, bà chúa nọ để ra oai, kêu gọi người dân cúng tế cho mình. Vì loài quỷ ăn bằng hương thực nên những gì có mùi là quỷ rất thích. Do vậy, khi cúng đình người dân thường cúng mặn bằng cách giết mổ heo, bò, gà, vịt. Quỷ thần oai đức được hưởng mùi vị nầy và nhờ đó họ sống thoải mái!

Ngoài cúng tế, người đời thường làm gà, vịt, bò trâu và biết bao nhiêu thức ăn mặn, đủ mùi vị nên quỷ thần tha hồ được hưởng thụ sung túc. Mà ở thế gian, nhất là Đông Phương, ngày nào mà không có cúng tế?

HÀNH VI CỦA LOÀI QUỶ

Trong loại quỷ dù là quỷ đói hay quỷ oai đức đều có hai thành phần: thiện và ác. Bản chất của quỷ là ác nên đa số thường gây nhiễu nhân gian, khi đó chúng bị gọi là ác quỷ. Điều nầy được một vị Quỷ vương khẳng định mà kinh Địa tạng Bổn nguyện đã viết trong Phẩm thứ 12. Một khi loài quỷ ý thức được điều lành và giúp đỡ loài người được gọi là quỷ thần.

Loài quỷ đói ngay cả bản thân họ cũng không lo nỗi, suốt ngày vật vã với cái đói, sự khát nên không thể có cơ hội hại người. Riêng loài ác thần oai đức thỉnh thoảng tìm cách gây hại loài người như một cách thỏa mãn “oai danh” của mình, thỏa mãn ác tính của mình, mượn xác chiếm hồn của con người thỏa mãn nhục dục. Do vậy, những kẻ bị nghiện rượu, nghiện cờ bạc, lô đề, nghiện ma túy, nghiện hút thuốc, nghiện tình dục… sẽ là duyên cớ cho bọn quỷ đói mượn xác hưởng dục. Đây là nguyên nhân lý giải tại sao một anh kia hiền lành như cục đất, nhưng sau khi uống rượu vào thì trở nên hung bạo. Hoặc như giới trẻ hiện nay, khi dùng thuốc lắc, ma túy tổng hộp bỗng dưng rối loạn hành vi mà trở nên  buông thả, ngông cuồng. Có loại quỷ ác gây tai họa trực tiếp như phá hoại mùa màng, hiện hình nhát ma, gây đau ốm cho con người, làm súc vật tự chết hoặc bị bệnh dại… Sau đó, bọn quỷ mượn tay bọn đồng cốt hù dọa dân lành, người yếu vía sợ hãi liền tổ chức cúng tế để chúng thọ dụng bằng mùi.

Loại Quỷ thần đa số được Đức Phật giáo hóa, trở thành hộ pháp ở Phật môn. Do được vân tập về Pháp hội nhờ nương theo oai thần của Phật và Thánh chúng về nghe Phật thuyết pháp; Quỷ thần oai đức một phần nào đó hiểu được giáo lý Phật đà cao siêu, thanh tịnh nên họ  thỉnh thoảng du ngoạn dương gian, cao hứng nhập đồng, tự xưng “thánh đế”, “thánh quân”, “chân tiên”, “Phật bà”, “Bồ tát”, “hộ pháp”…, giáng cơ, lên đồng khuyên làm lành tránh ác. Do có “thiên nhỉ thông”, họ nghe đầy đủ những gì Phật nói, song họ không nắm vững hết những yếu lý cao diệu của Phật gia, hoặc giả chỉ hiểu một phần nào đó, nhưng khi “nhập đồng” nói lại, nhiều người trong chúng ta cũng phải bái lễ trước sự thao thao bất tuyệt. Dễ dàng nhận ra những loại Quỷ thần “tung hứng” này là họ chỉ thuyết giảng mang tính chất “nhai lại”, không phải là “tiêu hóa” giáo điển. Mặt khác, một khi là Quỷ thần mượn xác phát ngôn thì họ không dám thuyết giảng về giới luật Phật gia, bởi vì họ rất sợ giới luật nhà Phật. Có nói rằng chỉ cần tuyên xưng 5 giới cấm Phật gia của người Cư sĩ thì bọn Quỷ thiện hay ác đều sợ hãi vì lúc ấy Kim cang Hộ pháp xuất hiện. Ngoài ra, Quỷ thần nhập cốt xong khiến người hầu đồng rất mệt, và họ thường ăn uống rất nhiều, và lén lút tà dâm với nữ sắc, nam sắc. Thêm một đặc điểm nữa cần lưu ý là Quỷ thần thường chuộng hình thức bên ngoài, háo danh và tham lam vô độ. Vậy, những ai tu hành, mang danh hành giả, mặc áo cà sa mà thường thể hiện những tính chất như thế, thì gọi là có nhiều “chất quỷ” trong người, Phật tử chúng ta cần phải xem xét lại để khỏi lầm lẫn!

Chuyện kể rằng  có một kẻ chăn cừu bình thường, anh ta thường để rơi ít thức ăn vụn trên tảng đá mà anh hay ngồi trầm ngâm về thân phận. Có 3 con quỷ thiện thường hưởng thừa đồ ăn ấy trong nhiều năm, cho nên chúng quyết định bàn nhau giúp đở kẻ chăn cừu trở thành người sung túc. Thế là một con rồng đen xung phong nhập xác anh ta. Thế là sau đó anh chân cừu của chúng ta không về nhà như mọi lần, mà vào thẳng một đền thờ thuyết giảng Phật pháp. Dân làng ngạc nhiên bởi anh diễn đạt lưu loát, những ý tưởng cao siêu giải thoát của Phật môn. Họ thật sự bất ngờ rồi sau đó chuyển sang tâm phục khẩu phục, bởi anh tự xưng là hóa thân của vị Bồ tát. Dân làng vui mừng quá đỗi, liền xây lên một ngôi chùa nhỏ để anh hoạt động pháp sự.  Từ đó, anh trở thành một “bậc thánh”, được người dân tung hô, cúng dường đầy đủ đồ ăn, thức uống tuyệt hảo. Ba con quỷ nhờ “phần xác” của anh mà cũng được sung túc bội phần.

Chuyện đổ bể ra khi một lạt ma chứng đắc vân du đến đây tìm đến, thấy được rồng đen ở trong người kẻ chăn cừu, đang giảng pháp cho mọi người. Ngài sai thị giả đốt hương trầm gần ghế ngồi của “pháp sư”, liền lập tức rồng đen bay mất. Lúc bấy giờ kẻ chăn cừu nửa mê nửa tỉnh thốt lên sau khi dụi mắt: “Ủa, đàn cừu của tôi đâu rồi? Sao đông người quá vậy?”. Kết cuộc của câu chuyện này ra sao, chắc các trò Mật gia đã hiểu. Đây là sự thật mà thánh tăng Tây Tạng Pabongka kể lại trong lần giảng pháp ở trước hàng ngàn đồ chúng. (xem tác phẩm “Giải thoát trong lòng tay” ).



QUỶ SỰ BÀI 10: nhận biết biểu hiện quỷ nhập từ thô đến tế

Làm thế nào để trừ tà đuổi quỷ? Đây câu hỏi lớn của mọi người khi quan tâm đến hiện hữu  tâm linh. Trước khi thực hành cần phải xác định ai là người bị trúng tà, quỷ nhập? Nơi đâu cho thấy hoặc biết có sự lộng hành của quỷ? Chúng ta loại trừ đối tượng “ma” vì bài trước cho biết “ma” là loài trời, ở xứ “Tha hóa tự tại thiên”. Họ hiếm khi đến nhân gian gây sự.

Hiện tượng quỷ nhập có lẽ bạn đọc được thấy qua mô tả trong bài “Quỷ nhập” do Mật Thủy viết. Tuy nhiên, tôi cũng nêu lại những điều lưu ý sau đây:
1/ Kinh nghiệm y khoa không chữa trị được bệnh quỷ nhập, nếu kẻ đó đi khám tổng quát sẽ không phát hiện được bệnh lý nào liên quan đến sức khỏe. Bắt đầu từ lúc bị nhập cho đến sau một thời gian dài, “người bệnh” mới bị suy kiệt thể chất và tinh thần.
2/ Người bị quỷ nhập thường nói lảm nhảm, nội dung không liên quan gì đến hiện trạng của họ. Thí dụ: Đang ngồi một mình mà thốt lên: “Đừng đến đây bắt tôi, sao mọi người ác quá vậy!”. Tâm trạng họ luôn lo âu, thỉnh thoảng hốt hoảng.
3/ Họ đi đứng nằm ngồi tùy tiện. Họ đòi ăn những gì mà con quỷ đòi hỏi; thậm chí có kẻ đòi ăn thịt sống, uống máu động vật. Khi ăn thường nhai ngấu nghiến, ngồm ngoàm, thỉnh thoảng liếc mắt xem chừng ai đến giành giựt không? Kẻ bị quỷ nhập ít ngủ, lang thang nhiều, có thể trong nhà, trong xóm, trong làng, khi đi thường có xu hướng đến chỗ hoang tàn, vắng vẻ, miếu hoang, nhà hoang, ao hồ, nghĩa địa.
4/ Ánh mắt lạc thần, tròng trắng nhiều ở đôi mắt, có khi đỏ ngầu những tia máu. Sắc thái lúc thì hoảng sợ, khi thì giận dữ kèm theo những lời nguyền rủa cay độc. Họ luôn cảm giác mình bị người khác đánh, giết, bắt trói.
5/ Tóm lại, người bị quỷ nhập luôn đánh mất kiểm soát bản thân về hành vi thân, khẩu, ý.
6/ Ghét những ai nói về đạo pháp (Thầy, Phật, Pháp, Tăng), sợ hãi khi đi ngang qua chùa, tự viện, tịnh thất, đạo tràng.
Trên đây là hiện tượng bị quỷ nhập, do loại quỷ oai đức hạng bình thường (hạ đẳng quỷ thần) gây ra đối với những kẻ có tần số tâm linh tương đương (tức là sóng lực trường sinh học, trường tâm linh phóng xuất những xung động tiêu cực nặng nề do tích tụ lâu ngày những “chất quỷ”). Tuy nhiên, có những loại người bị quỷ nhập lại được kẻ khác sùng bái. Đây là hiện tượng quỷ nhập vi tế, người bị nhập không hề hay biết mà chỉ nhận ra sau một thời gian dài (có khi hàng vài năm đến vài chục năm trở lên) sau khi quỷ ta xuất đi. Đây là sự chiếm giữ linh hồn con người một cách tinh vi mà chỉ có loại quỷ oai đức bậc trung, bậc cao (trung đẳng quỷ thần, thượng đẳng quỷ thần) có tước quỷ hẳn hoi, mới làm được! Quỷ ta du hí thần thông rồi hứng chí tự tung tự tác qua thân người của kẻ bị nhập. Những biểu trạng sau đây để nhận biết:
1/ Kẻ bị nhập vẫn sống đời sống bình thường của con người, chỉ khác ở chỗ là sau khi quỷ nhập họ có được năng lực siêu nhiên, khả năng phi thường, gọi là “quỷ thông” (thiên nhãn thông, thiên nhĩ thông, tha tâm thông, tức là nhìn xa, nghe xa, đoán bắt hoặc có thể đọc được ý nghĩ của người khác).
2/ Họ có cách nói năng lưu loát (hoạt khẩu, lợi khẩu) nhưng chỉ xảo biện nhằm che đậy mưu đồ bất chính, hoặc vì trục lợi cá nhân. Có kẻ khi bị quỷ nhập xuất khẩu thành thi, dẫn chuyện thật hấp dẫn.
3/ Nội dung diễn đạt của kẻ bị nhập như vậy, thường xoay quanh vấn đề  ngũ dục (tài, sắc, danh, thực, thùy), đặc biệt hay nói chuyện phong tình. Họ rất ngại đề cập đến đạo pháp và chánh kiến Phật giáo.
4/ Nếu kẻ bị quỷ thần thiện oai đức nhập vào thì họ thường có khuynh hướng khuyên răn làm lành, tránh dữ nhưng không đề cập đến việc tu tập trí huệ giải thoát. Đặc biệt, họ rất sợ giảng thuyết hay phân tích về giới luật Phật môn, nhất là giới cấm tà dâm (giới biệt giải thoát cá nhân), còn trong Bồ tát giới nguyện họ sợ nói về giới cấm tà kiến, và cấm thoái chuyển Bồ đề tâm. Tựu trung lại họ khuyến tấn tu thiện, làm phước và không dám nêu cao ngọn cờ giải thoát khỏi tam giới. Loại quỷ oai đức bậc trung này thường gá vào những kẻ đã là quyến thuộc đời trước của họ, phần lớn những người đó có linh căn, nhẹ vía.
5/ Họ làm ra vẻ đạo mạo, nghiêm trang nhưng lộ tướng qua biểu hiện trong phục sức cầu kỳ, diêm dúa, đặc biệt họ rất coi trọng hình thức bề ngoài; hoặc cố tình làm cho mình trở nên khắc khổ, tuềnh toàng.
6/ Lời nói và hành vi bất nhất (nói khác, làm khác).
7/ Lén lút gây nghiệp xấu như sát sanh, trộm cắp, tà dâm, vọng ngữ, lạm dụng các chất, các thứ gây nghiện, họ có thể ngụy trang trong hình thức vi tế khó nhận ra cho đến khi bại lộ. Chẳng hạn mới đây người dân Thái Lan phẫn nộ khi biết 3 vị sư dùng tiền của tín chủ để tậu máy bay chuyên cơ làm phương tiện đi lại. Gần hơn nữa, báo Tuổi Trẻ đăng tin những nhà sư tiếp tay cho vị trụ trì một chùa lớn ở tỉnh Chieng Mai, lạm dụng tình dục đồng tính đối với một bé trai tuổi vị thành niên. Khi cha mẹ nạn nhân tố cáo, vị trụ trì bỏ trốn.

Cần nhấn mạnh rằng những kẻ bị quỷ nhập lộ chân tướng ra bên ngoài qua những biểu trạng thô kệch, trong giai đoạn bộc phát ban đầu thì y khoa có thể điều trị được. Bởi lẽ, khi bị quỷ nhập thần kinh não bộ của họ bị lệch chuẩn, song hệ thống kinh mạch chính (gồm kinh mạch bên trái, bên phải, chính giữa, trong tổng số 72.000 kinh mạch) gọi là khí lực, chưa bị phá hỏng, chưa bị kết bế hoàn toàn. Sau khi được điều trị ở bệnh viện tâm thần, họ sẽ được tỉnh táo trở lại.

Tuy nhiên, những kẻ bị quỷ thần trung đẳng hoặc thượng đẳng oai đức nhập vào, người khác khó nhận ra vì họ mang hình tướng phương phi, đạo mạo, kèm theo năng lực quỷ thông khiến cho người khác kính phục vô cùng. Chỉ khi đàm luận đạo pháp, đề cao giới luật, đả phá tà kiến, đặc biệt là giương cao ngọn cờ trí tuệ giải thoát, chúng ta cảm nhận họ không mặn mà với những chủ đề này. Ngọn lửa tham, sân, si về ngũ dục của họ ẩn tàng sôi sục được che đậy bằng bức bình phong “ăn khổ”, “mặc xấu” nhưng tiền tài tích trữ kỹ càng, chỉ muốn thêm không muốn bớt. Họ thường “lấy của làng làm lệnh” trong những chuyến từ thiện đến những vùng sâu, vùng xa, việc mà đạo nào cũng làm được, tập thể thế gian hay trong đạo cũng tổ chức được. Song, họ rất ham việc thiện nguyện ấy vì ai cũng biết đến, chứ ngồi tu trong chùa, trong nhà ai mà biết, mà thấy! Để làm gì? Để đánh bóng bản ngã. Đi đến đâu, nói với ai họ cũng đề cao đạo pháp, tán thán Phật đà, ca ngợi tăng ni. Nhưng nếu bảo họ xây tăng phòng phục vụ người tu, lập giảng đường thuyết pháp cho đạo chúng, xây thư viện phục vụ tiếp thu kiến thức tâm linh Phật giáo, họ lờ đi. Nếu có ai đó nhục mạ họ, hoặc nghe người khác  nói xấu, mạ lỵ họ thì họ sẽ phản ứng như thế nào? Ôi thôi, họ căm hận thấu xương, sắc mặt họ tái nhợt, thay đổi như da kỳ đà nhưng họ vẫn cố “nhẫn nhục” bằng một nụ cười gượng gạo, giả lả rằng chuyện đó không sao, vinh-nhục; khen chê mà làm gì! Song, về đến liêu phòng họ ngủ không được, quyết tìm cách triệt hạ kẻ kia bằng mọi cách. Cách tốt nhất của họ là dùng quyền lực của mình mà khống chế. Cách tốt nhì là vu khống và giá họa. Cách tốt thứ ba của họ là mượn chiêu bài “mạt pháp” mà chỉ trích. Cách thứ tư là ai khen người kia, hoặc bảo vệ người kia, họ ghét lây mà không nói ra, chờ dịp là họ ra tay gây hại.

Với loại người bị quỷ nhập trong trường hợp này, chúng ta đành bó tay và chỉ để cho luật NHÂN-QUẢ xử trị. Chỉ khi nào họ tự kiểm bản thân, soi rọi tâm mình, thì họ mới có thể giảm đi cho đến triệt tiêu “chất quỷ” đã thấm sâu vào máu thịt. Nếu không, đến lúc già yếu, hoặc lúc lâm chung quỷ ta ra khỏi thân người, họ trở thành kẻ tầm thường, chắc chắn sẽ không đối đầu được với nghiệp quả. Lúc đó, hối hận cũng đã muộn màng. Tôi kết thúc bài này bằng giáo huấn của thánh giả Thogme Zangpo được nêu ra trong trước tác “37 PHÁP HÀNH BỒ TÁT ĐẠO”: “  Nếu không tự quán xét lỗi lầm, tức là ta chỉ mang danh là hành giả mà không có thực hành. Bởi vậy, hãy luôn luôn quán xét và loại trừ lỗi lầm của mình. Đó là pháp hành Bồ tát đạo. Hẹn bài 11 sẽ viết tiếp phần còn lại.
Làng Phước Thành ngày 21/06/2013

Read More
      edit
Published tháng 5 16, 2015 by ana03 with 0 comment

Ma Ám Hay Tâm Thần

Đã từ lâu chứng bệnh tâm thần và ma ám vẫn là một vấn đề nạn giải cho cả hai giới y khoa và tâm linh. Nhận định sai lầm về chứng bệnh cũng như công vìệc điều trị đều có thể khiến cho bệnh tình của bệnh nhân trở nên trầm trọng, và cuối cùng đi đến chứng bệnh tâm thần thật sự cùng bao hậu quả không lường khác! 

Ma ám có thật sự hay không? Đối với y học, nếu như chấp nhận thì xem như đi ngược lại nền tảng căn bản của khoa học thực nghiệm. Muốn chối bỏ thật sự thì cũng không xong vì các hiện tượng tâm linh vẫn thường xuất hiện trong dân gian, và đã được lưu truyền qua lịch sử của các tôn giáo cả ngàn năm nay.

I. Ma ám và Y học
Y học đã xem chứng bệnh ma ám hay bệnh tà đều là hình thức của chứng Rối Loạn Đa Nhân Cách (Multi Personality Disorder), căn bệnh được Pierre Janet, một bác sĩ người Pháp, mô tả lần đầu ở thế kỷ 19; hay một trong những chứng bệnh rối loạn tư tưởng của bệnh tâm thần thường được biết đến đó là bệnh Tâm Thần Phân Liệt với tên y học là schizophrenia. Trước hết hay tìm hiểu về chứng bệnh Rối Loạn Đa Nhân Cách và Tâm Thần Phân Liệt.

A. Rối Loạn Đa Nhân Cách
“Theo Janet, một người được xem bị chứng Rối Loạn Đa Nhân Cách nếu có 4 triệu chứng:
1. Có 2 hoặc nhiều hơn trạng thái của các nhân cách thay nhau chi phối con người.
2. Các nhân cách phải hoàn toàn riêng biệt, tương đối ổn định về nhận thức, quan hệ gia đình, xã hội, khả năng miêu tả thế giới xung quanh.
3. Khi bị một nhân cách này chi phối, người bệnh có khả năng quên các thông tin quan trọng liên quan đến các nhân cách tiềm ẩn khác, đến mức không thể xem đó là chứng quên thông thường.
4. Các rối loạn đó không phải do ảnh hưởng của thuốc hay hóa chất.”

B. Tâm Thần Phân Liệt
a. “Các triệu chứng dương tính như:
1. Hoang tưởng (Delusions):
Hoang tưởng là những ý tưởng phán đoán sai lầm không phù hợp với thực tế mà người bệnh cho đúng, không thể giải thích đả thông được.
- Bệnh tâm thần phân liệt thường có hoang tưởng luôn nghĩ rằng có một người nào đó, hay một lực lượng nào đó đang kiểm soát, chi phối hoạt động của bệnh nhân, hoặc đang theo dõi, đầu độc, làm hại bệnh nhân.
- Bệnh nhân cho mình là một siêu nhân có khả năng làm những vìệc khác thường hoặc đang tiếp xúc với người của thế giới khác ...
2. Rối loạn tư tưởng (Thinking disorders):
Người bệnh cho rằng:
- Ý nghĩ của mình phát ra thành tiếng nên mọi người biết được.
- Hoặc có ai đó đọc được ý nghĩ của mình mặc dù không nói ra, hoặc có người nào đó sắp đặt ý nghĩ của họ vào đầu mình.
3. Ảo giác (Hallucinations):
- Thường bệnh nhân nghe thấy những tiếng nói bàn tán về hành vi của bệnh nhân cũng như thảo luận về bệnh nhân, hoặc những tiếng nói khác xuất phát từ một bộ phận nào đó trong cơ thể của người bệnh.
- Bệnh nhân nhìn thấy, ngửi thấy, cảm thấy những gì mà người khác không thấy.
4. Rối loạn hành vi (Behavioural disorders) như:
- Giận dữ vô cớ, đập phá, hò hét.
- Hay bất động giữ nguyên tư thế, không nói, không ăn....

b. Các triệu chứng âm tính (tiêu cực) như:
- Cảm xúc khô khan lạnh nhạt, bao gồm cả biểu hiện trên khuôn mặt, giọng nói, ánh mắt, và ngôn ngữ cơ thể.
- Nói năng không mạch lạc, gián đoạn, trống không. Suy nghĩ và phản ứng chậm chạp.
- Không còn quan tâm đến vìệc đi ra ngoài và gặp gỡ bạn bè, cách ly xã hội. Sống cô độc, đi lang thang hoặc lo sợ giận dữ vô cớ.
- Thay đổi tánh tình, không còn hứng thú quan tâm đến bất cứ điều gì, biếng nhác, ngồi trong nhà nhiều giờ một ngày không làm gì.”
II. Ma ám qua khía cạnh tâm linh
Đối với bệnh nhân bị ma ám thì hầu hết đều có các triệu chứng tương tự như hai chứng bệnh rối loạn tâm thần được nêu trên nên rất khó phân biệt, bởi vì nguyên tắc tác động của thế giới vô hình vào cõi nhân gian lúc nào cũng hư hư thật thật.

Muốn nhận định chính xác với căn bệnh đòi hỏi người định bệnh phải có đầy đủ kiến thức trên hai phương diện Y học và Tâm linh cũng như kinh nghiệm qua quá trình nghiên cứu và chữa trị. Nên người viết đã xem khoa trị “bệnh tà” hay “ma nhập” như là “Linh Y học”. Bởi vì sao?

Trị bệnh tà hay ma ám mà thiếu kiến thức về y học thì sẽ hành xử như một người mê tín và không khéo sẽ khiến bệnh tình của bệnh nhân trở nên trầm trọng, dễ đi đến điên loạn, chưa kể còn làm cho bệnh nhân bị mang thương tích về thể xác qua những trị liệu sai lầm.

Ngược lại, trị bệnh tà bằng y học mà thiếu kiến thức về tâm linh (không trị tận gốc) cũng có thể sẽ khiến cho tinh thần bệnh nhân ngày càng suy nhược và cuối cùng cũng đi đến chứng bệnh tâm thần trầm trọng.

Theo như kinh nghiệm nghiên cứu thì hầu hết những người bị bệnh ma ám hay bị tác động của thế giới vô hình nói chung, đều chỉ bị trong thời gian ngắn, trên dưới 1 năm là tối đa (ngoại trừ những người có căn “đồng”), nhưng nếu không được chữa trị kịp lúc và để quá lâu thì não bộ thần kinh của bệnh nhân sẽ bị suy nhược bởi sự kinh sợ triền miên. Và cuối cùng cũng sẽ dẫn đến chứng tâm thần thật sự.

Khác với người bị chứng bệnh tâm thần, người bị ma ám thường có những hành động cũng như khả năng thật khác thường, đôi khi tỏ ra rất khôn lanh và đối đáp hoạt bát, kèm theo ánh mắt rất tinh ranh ma quái có khi khiến cho người đối diện có cảm giác rợn người, nhưng đến khi khám bệnh thì tỏ ra như người mất trí để không ai đoán ra tông tích.

Thông thường một vong linh đến với với một người có rất nhiều nguyên nhân, có thể tóm gọn như sau:
- Vong linh cũng có thể là một người thân trong gia đình về giải quyết những bế tắc, hoặc cảnh báo một điều bất ổn hay nguy hiểm xắp xảy ra nếu như gia đình có phước đức, hoàn tất một sự việc, hoặc dưới một hình thức khuyến tu.
- Do báo nghiệp hay duyên nghiệp
Nghiệp này có thể là kết quả của một sự kiện xảy ra trong kiếp hiện tại và cũng có thể từ trong quá khứ.

A. Nhẹ:
Vong linh đến rồi đi giống như “Chuyện Tình Liêu Trai” mà người viết đã ghi lại trước đây. Trong nghiệp duyên này có ẩn chứa phước duyên và cũng là một trường hợp rất hiếm, diễn tiến thật nhẹ nhàng, với mục đích nhắc nhở, khuyến tu.

Nhân đây người viết cũng xin kể thêm một câu chuyện thật, liên quan đến việc báo oán của một hồn ma đến với một thiếu nử, sự việc này đã xảy ra thật ly kỳ, thật khó tin nếu không tận mắt chứng kiến, và được một số người biết đến.

“Ma Giữ Của”
Vào khoảng năm 1990 (?), người viết đã được sư tỷ PTN dẫn đến chùa Pháp Vân tai Pomona, California để xem Sư Tịnh Đức trị tà. Nhóm đi gồm có 4 người.

Bệnh nhân khi đó là một thiếu nử khá trẻ (16, 17 tuổi) và được biết cô ta đã bị một hồn ma theo quấy phá và nhập xác trong một thời gian. Gia đình cô ta cũng đã mang cô đến nhiều nơi để chữa trị những vẫn không xong. Trước đó người viết cũng gặp cô một lần khi gia đình cô mang cô đến một trung tâm ở Anaheim nhờ giúp đở, khi đó cô đã nắm và quăng xâu tràng hạt của một người khách cho biết đã được trì chú cả ngàn biến đưa cho cô, tung tóe trên mặt đất.

Sau khi tiếp chuyện và thăm hỏi về bệnh tình với gia đình của bệnh nhân, Sư Tịnh Đức đã mời mọi người vào chánh điện để làm lễ. Bệnh nhân ngồi xếp bằng trước bàn thờ Phật, quay về phía sau đối diện với Sư Tịnh Đức cùng một số đệ tử mật tông ngồi sau lưng.

Sau đôi lời khuyên giải với hồn ma và không có kết quả, thì Sư Tịnh Đức cùng các đệ tử bắt đầu tụng chú. Một hồi sau thì sắc mặt của bệnh nhân dần biến đổi, hồn ma qua thân xác của bệnh nhân đã dùng hai tay ôm lấy đầu kêu la, rên xiết. Mọi việc diễn tiến khá khả quan thì bổng nhiên chị PTN cho người viết biết: “Có lẻ không xong rồi!” Qua phương tiện “Nhãn” chị thấy được Thầy của hồn ma đã xuất hiện rất oai vệ và to lớn.

Quả đúng theo lời của chị cho biết, thì hồn ma sau khi thấy Thầy của mình xuất hiện đang kêu la bỗng ngồi bật dậy cười hăng hắc. Sau đó thì cả hai bên đã dùng tay ấn đấu phép với nhau và đối thoại với nhau bằng tiếng âm (ngôn ngữ của thế giới bên kia).

Sau đó thì chị PTN đã chuyển lời nhắn của Thầy của hồn ma đến với mọi người như sau: “ Không ai có thể can thiệp vào ân oán giữa chúng nó, vì chỉ có hai đứa nó mới có thể cởi bỏ được oan nghiệp với nhau mà thôi.” Nghe xong cả hai bên đều xả ấn và bắt đầu thảo luận để tìm phương cách giải quyết tốt hơn. Sau khi tiếp xúc với Thầy của hồn ma bằng phương tiện “Ý”, chị PTN đã cho biết oan nghiệp của hai người như sau:

Hồn ma là một thiếu nử bị bệnh nhân chôn sống để làm “Ma Giữ Của” cho mình cách đây khoảng 400 trăm năm (?). Đến kiếp này hội đủ nhân duyên nên hồn ma đến để trả thù. Sau khi thấu hiểu được sự tình và qua sự khuyên giải, hồn ma tuy không chấp nhận rời bỏ thân xác của bệnh nhân qua sự báo oán nhưng hứa sẽ không làm hại đến thân xác thiếu nử của bệnh nhân cho đến lúc được siêu thoát.

Khoảng một thời gian khá lâu thì người viết tình cờ gặp được một người bạn cũng rất thân với gia đình của bệnh nhân cho biết thêm chi tiết sau:

“Hồn ma đã xem bệnh nhân như một người bạn, thỉnh thoảng hồn ma cũng tham gia vào những sinh hoạt của gia đình bệnh nhân với những khả năng đặc biệt của mình, như đoán số điểm của lá bài. Và hồn ma sau đó đã bị Thầy biết được và nghiêm tri, cấm đoán. Có một điểm đặc biệt là theo sự giao ước giữa hai bên, bệnh nhân phải đi ngủ mỗi đêm vào khoảng 10 giờ để hồn ma xuất đi học đạo nơi cảnh giới khác.”

Câu chuyện không biết kết thúc đã ra sao, hy vọng bài viết này đến được tay những người trong cuộc để có thể cho mọi người biết thêm diễn tiến của câu chuyện.
B. Nặng: ác nghiệp
Trường hợp này có sự báo oán của vong linh để đòi lại sự công bằng cho một ân oán về tình, tiền hay nhân mạng trước đây. Ngoài việc hành hạ xác thân bệnh nhân, đôi khi hồn ma còn mượn tay người khác tra đánh thêm bệnh nhân qua hình thức giả vờ kêu la kinh sợ khi bị tra đánh. Đây là một sự việc vô cùng tai hại gây ra bởi những người điều trị thiếu kiến thức tâm linh.

Đã có biết bao câu chuyện được lưu truyền trong dân gian về phương pháp trị tà của thầy pháp nơi thôn quê như:
- Tra đánh bằng roi dâu có khi quá mạnh tay làm bệnh nhân mất mạng.
- Dùng đồ ô uế tưới vào người bệnh nhân như máu chó, nước tiểu, phân…

Thật là “tội nghiệp” cho bệnh nhân phải chịu đựng sự đau đớn, tủi nhục mà không ai biết rằng hồn ma tá khẩu bệnh nhân giả vờ kêu la (hoặc do chính bệnh nhân rên la vì đau đớn) nhưng trong lòng thì hớn hở trả được oán hận.

Nếu phạm sát nghiệp quá nặng và số mạng của bệnh nhân đã tận thì hồn ma cũng có thể khiến cho bệnh nhân mất mạng qua các tai nạn hoặc tự quyên sinh, tuy nhiên đây là một trong những trường hợp rất hiếm xảy ra.

Ngoài ra còn có thêm một số trường hợp khác như sau:
- Vong linh mượn xác để nhờ xin giúp đở một vấn đề gì. Trường hợp này thì đến và đi cũng rất nhanh và cũng không ngoài mục đích nhắc nhở cho mọi người về sự hiện hữu của thế giới tâm linh.
- Tá xác người để thử thách đạo hạnh của người tu hay giáo sĩ. Xem câu chuyện “Ngư Tinh” trong bài “Thử Thách Trong Tâm linh” mà người viết đã viết trước đây.
- Nương theo hình thức trả nghiệp của bệnh nhân thay vì bằng thể chất qua chứng bệnh tâm thần, hồn ma đã khiến bệnh nhân trả nghiệp bằng hình thức tâm linh cũng cùng một nghiệp quả (tâm thần). Đôi khi cũng cùng phương tiện này dưới sự điều động của thế giới vô hình để thực hiện hai mục đích khác nhau:

1. Khiến bệnh nhân trả nghiệp
2. Đánh thức tâm thức của con người nên sống trên con đường chánh đạo và củng cố thêm đức tin.
- Trường hợp những người có căn “đồng (đồng tử)” cần phải làm việc giúp đời để giải nghiệp nếu không cũng sẽ bị hành xác khổ sở vô cùng. Trong trường hợp đặc biệt này người có xác “đồng” không được xem như là bị ma nhập vì cuộc sống của họ cũng bình thường như mọi người, ngoại trừ những lễ lạc quan trọng phải hầu đồng theo giao ước. Giao ước này có thể kéo dài đến hết cuộc đời của người thọ nghiệp.
Và còn nhiều nguyên nhân khác tuỳ theo nghiệp báo của mỗi người mà thế giới vô hình tác động khác nhau
III. Tóm lược:
1. Chuẩn bệnh
Người bị ma ám và tâm thần đều có những triệu chứng rất giống nhau và rất khó phân biệt cho nên cần phải quan sát và phân tích rất kỹ lưỡng để khỏi bị lầm lẩn. Sau đây là một số góp ý cần nên lưu ý trong việc chuẩn bệnh:
- Để ý đến thời gian phát bệnh, nguyên do (bị căng thẳng, lo âu, trầm cảm hay mới đến tiếp xúc những hoạt động liên quan đến với thế giới vô hình như cầu cơ, triệu hồn…)
- Quan sát cử chỉ (người bị ma ám hoặc có sự tác động của thế giới vô hình thường biểu lộ qua các tay ấn), hành động ( lờ đờ hay tinh quái khác thường), mắt ( lạc thần hay lộ hung quang khiến người nhìn cảm thấy sợ hải), cũng như ngôn ngữ ( không mạch lạc hay thỉnh thoảng dùng tiếng âm (tiếng lạ), nguyền rủa…) của người bệnh để có dữ liệu cung cấp cho người định bệnh.
- Nên chịu khó lắng nghe lời bệnh nhân nói vì qua đó có thể hiểu rất nhiều nguyên do (đôi khi lời của hồn ma cũng nói lên tâm trạng uất ức của bệnh nhân nếu hồn ma là người về giúp đở).
- Nên tham khảo với người có kiến thức trên hai lãnh vực y khoa và tâm linh nếu như đã tìm thấy một số dấu hiệu khác thường được nêu trên.
- Nên tham khảo với Y sĩ chuyên khoa về thần kinh học, tâm lý học để định bệnh nếu như không thấy những dấu hiệu khác thường liên quan đến thế giới âm được nêu trên.
- Nếu như thu thập được khá nhiều dữ kiện liên quan đến tác động của thế giới âm được nêu trên, thì nên tham khảo với các nhà nghiên cứu có kinh nghiệm về tâm linh học để tìm hiểu thêm vấn đề. Hoặc nên tham khảo với các tu sĩ mật tông nhất là những người có khả năng tâm linh có thể tiếp xúc với thế giới vô hình qua các phương tiện “Nhãn, Ý” để tìm ra căn bệnh và nguyên do. Nên nhớ phương tiện xử dụng của hành giả mật tông khác hẳn với đồng bóng.
Nên cẩn thận trong việc tầm thầy chữa bệnh để khỏi bị kẻ gian lường gạt. Việc này cũng còn tùy duyên và phước đức của bệnh nhân. Chân sư thường do phước duyên mà tìm gặp, còn kẻ gian thì đầy rẩy khắp nơi.

2. Đối phó và điều trị
Khi xác đinh được bệnh nhân đã bị ma ám, thì người viết xin phép được chia xẻ một số kiến thức qua kinh nghiệm nghiên cứu, học hỏi và chứng nghiệm của chính bản thân với người trị bệnh với những nguyên tắc sau, hy vọng cũng sẽ đón nhận được sự chỉ dạy, góp ý của các bậc cao nhân hầu giúp cho mọi người có được những kiến thức giá trị và thực dụng khi hữu sự:

a. Đối với hồn ma
- Phải cố gắng, kiên nhẫn, lắng nghe và phân tích mỗi cử chỉ và lời nói của hồn ma để tìm cho được nguyên nhân. Đôi khi bệnh nhân không phải là đối tượng thật sự trong sự nhập xác của con hồn ma mà chỉ là một hình thức của sự “dương đông kích tây” để giải quyết một vấn đề gì trong gia đình, có thể là xấu mà cũng có thể là tốt. Đôi khi hồn ma còn dùng bệnh nhân để làm đối tượng muốn trả thù đau khổ gấp trăm lần nhất là người đó được thương yêu nhất.
- Tuyệt đối không dùng phép trấn ếm với hồn ma mà không tìm hiểu nguyên do.
Một pháp sư cao tay có thể khống chế hồn ma trong lúc đó chứ không thể lúc nào cũng bảo vệ bệnh nhân được. Hơn nữa như câu chuyện về hồn ma (Ma Giữ Của) được nêu trên, hồn ma có thể được sự trợ giúp của thế giới bên kia phá pháp thuật của pháp sư nếu như làm sai nguyên tắc.
- Nên hành xử như một người thương thuyết (negotiator) của cả hai bên. Không nên vội xem hồn ma là kẻ ác vì biết đâu hồn ma cũng chính là nạn nhân của bệnh nhân về báo oán, trả nghiệp. Phải biết lắng nghe hai bên để tìm ra giải pháp công bình dựa trên công lý, công bình và chánh đạo.
- Nên cố gắng, kiên nhẩn, khuyên giải vong linh dựa trên giáo lý tôn giáo, lẽ phải. Vì vong linh cũng là một chúng sanh như chúng ta tuy không còn thân mạng hữu vi.
- Không nên nghe và làm theo lời sai bảo của hồn ma nếu như những lời đó là điều nghịch lý và không hợp lý bởi sự đe dọa. Chẳng hạn như nếu không làm theo thì một ai đó sẽ bị chết hay bị giết. Lấy mạng một người không phải dễ nhất là luật của cõi âm còn gắt gao vô cùng.
- Trị tà là công vìệc rất khó khăn, đòi hỏi người trị phải có đầy đủ đạo hanh, phước đức. Phải rất cẩn thận trong việc hành xử. Nên nhớ rằng ta không thấy được hồn ma những họ có thể thấy ta bất cứ lúc nào. Nếu như một pháp sư làm điều sai trong lúc trục tà (phạm nguyên tắc của luật vô hình) thì hồn ma có thể trả thù qua thân nhân của pháp sư (thông thường trước khi ra tay, con tà cũng cảnh cáo ít nhất 3 lần như nói lên tư cách hay hành vi bất chánh của người trị…) Trong quá khứ chắc có lẽ mọi người cũng đã nghe qua về chuyện một số pháp sư đã bị hồn ma vật cho hộc máu hoặc người thân của họ đã gặp tai nạn bất ngờ, cũng chỉ vì phạm phải lổi lầm này.
- Đối phó với những vong linh thông thường thì người có kiến thức am hiểu cũng như có chút ít khả năng, phương tiện về thế giới tâm linh có thể áp dụng những phương pháp nêu trên, nhưng nếu gặp phải những vong linh dữ tợn giống như phim “quỷ ám” thì nên nhớ rằng đây là công việc của pháp sư, cao tăng hay tu sĩ, giáo sĩ được huấn luyện đặc biệt trong ngành. Những tu sĩ trị tà trong mật tông thường có “Ấn lệnh” đặc biệt, dưới sự yểm trợ bảo vệ của các “Chư vị” hay “Linh sư” bên cõi giới vô hình mới có thể khuất phục những vong linh còn đầy sân hận này.
- Người không có khả năng trong lãnh vực tâm linh muốn gúp người bệnh “trị tà” cũng nên tự lượng sức mình, biết tùy cơ mà tiến thoái để khỏi mang họa vào thân.

b. Đối với bệnh nhân
- Có một điều người bị bệnh "Tà hay Ma ám" luôn nên ghi nhớ là phải luôn cố gắng phấn đấu giữ vững tinh thần. Âm thịnh thì dương suy, đến khi tinh thần kiệt quệ thì “âm” khống chế hoàn toàn đi đến sự bấn loạn không còn tự chủ được nữa.
- Luôn cầu nguyện, trì chú để được các Đấng Bề Trên gia hộ và có thêm sức mạnh tinh thần.
- Phải phối hợp với sự trị liệu của y khoa, y dược để khôi phục lại tinh thần, giảm bớt sự căng thẳng, sợ hải triền miên.
- Hãy tự nói với mình rằng: "Tất cả mọi việc cũng đều là ảo. Xác thân này cũng đều là giả tạm! Mọi sợ hải trong những ngày qua cuối cùng thì như thế nào? Ta vẫn sống và đã vượt qua." Hãy xem bài “Đại Thủ Ấn” do cư sĩ Nguyên Giác dịch thuật để thấy được những tinh tuý về “Tánh Không” và ứng dụng trong cuộc đời hư ảo.
“Ô! Hãy nhìn kỹ vào các pháp [hiện tượng] thế gian!
- Sự lo lắng, chăm sóc, yểm trợ của thân nhân là nguồn trợ lực rất quan trọng trong việc điều trị để giúp bệnh nhân có chổ dựa, an tâm vượt qua sự sợ hải.
- Hạnh phúc, niềm vui với người thân, với vợ chồng, con cái trong gia đình cũng là liều thuốc tinh thần quan trọng không thể thiếu trong cơn hoạn nạn bởi vì sự giúp đỡ của bạn bè, người ngoài rồi cũng có giới han. Để hết tâm trí, tình thương nghĩ đến người thân để để không còn suy tư lo lắng những chuyện khác.
- Nên nghiên cứu học hỏi thêm một môn nghệ thuật nào đó như âm nhạc, hội hoạ (theo sự góp ý của Cư sĩ Nguyên Giác) để tinh thần được lắng dịu.
- Nên tham gia các hoạt động ngoài trời như đi bộ, tập thể dục thể thao, tập dưỡng sinh để bổ xung khí lực tiêu hao trong người. Dương (người) thịnh thì âm (ma) suy.

3. Phòng ngừa
- Không nên chơi cầu cơ (mời gọi vong linh), làm lễ triệu hồn (ngoại trừ những trường hợp tối cần thiết). Cõi vô hình tác nhập sẽ không biết ai là ai?
- Không nên tu tập những pháp môn huyền bí mà không nắm vững giáo lý căn bản về “Hiển” cũng như “Mật”, cũng như không có các chân sư hướng dẫn. Biết rằng tất cả đều do nghiệp duyên dẫn dắt nhưng nếu tránh được thì nên tránh. Khi cánh cữa âm dương trong người đã khai mở (xem như vậy cho dễ hiểu) chẳng hạn như đã một lần tiếp xúc với thế giới bên kia qua thân khẩu ý (nhập xác) thì có hội rất dễ bị tiếp nhập vào thân sau này nhất là ở những nơi có tính cách âm nhiều hoặc sinh hoạt về tâm linh.
- Nên tham gia các hoạt động công ích xã hội, bố thí cúng dường để có thêm công đức “làm giáp che thân” khi hoạn nạn.

Nói tóm lại “ma ám” hay bị “bệnh tà” đa số đều là một hình thức của nghiệp báo từ thế giới bên kia gây ra bởi một oan nghiệp hiện tiền hay quá khứ. Nói chung thì có hai hình thức trả nghiệp: thể chất và tâm linh. Trả nghiệp thể chất qua thân xác như mắc phải chứng bệnh tâm thần, bệnh nan y khiến bệnh nhân bị đau đớn hoặc mất đi một phần của cơ thể qua các tai nạn.

Trả nghiệp qua tâm linh như bị ma nhập, quỷ ám...
Nếu như oan nghiệp liên quan đến mạng sống thì sự trả báo của con tà sẽ vô cùng dữ dội và kinh sợ vô cùng.
Tuỳ theo báo nghiệp của một người mà thế giới bên kia có thể dựa vào đó để tác động qua thể xác hay tâm linh, hình thức tuy khác nhau nhưng cùng một kết quả.

Người trả nghiệp bằng tâm linh như bị ma nhập thì đôi khi trước là họa nhưng sau cũng được đền bù lại chút ít công đức, vì qua sự việc đó đã thức tâm được rất nhiều người chung quanh. Bởi vì sao?

Khi mọi người thấy có "ma" nhập vào người khác tức biết có thế giới tâm linh thật sự, có "tà" tức phải có "chánh" nên phải đặt hết niềm tin vào các Đấng mà mình thờ phượng. Mọi sự việc đều có nhân quả và ân oán phân minh. Tà không thể thắng chánh và chỉ tồn tại trong một giai đoạn nhất định để hoàn tất nhiệm vụ, và cuối cùng là cũng để vinh danh công lý, chánh nghĩa hay lẽ phải. Thượng đế ở khắp mọi nơi và cũng giống như chư Phật (Phật tại tâm) và là Đấng Tòan Năng, Toàn Giác không lẽ không cứu rổi nhân sinh trước sự cầu cứu? Nếu không như vậy thì đâu còn là Đấng Toàn Năng, Toàn Giác nữa!

Ngoại trừ những trường hợp rất đặc biệt do vong linh mượn xác để nhờ sự cầu giúp để sớm siêu sinh thì đi rất nhanh (và cũng không ngoài mục đích nhắc nhở sự hiện hữu của thế giới tâm linh), thông thường thì người bị nhập cũng phải chịu đựng một thời gian: một vài tuần, vài tháng, vài năm hoặc cho đến khi mục tiêu của vong linh (dưới sự kiểm soát của chư vị bên thế giới tâm linh) được hoàn tất. Nhưng nói chung lúc đầu thì nặng sau đó nhẹ dần theo năm tháng nếu như bệnh nhân không phạm phải sát nghiệp quá nặng. Khi đến thì họ đến rất bất ngờ và khi đi thì họ cũng nhờ vào một sự kiện nào đó để được hóa duyên chẳng hạn cũng có thể qua phương pháp trị liệu của y khoa, không nhất thiết phải qua phương tiện tâm linh như làm lễ trừ tà, trục xuất (để làm tăng uy tín cho cho các cao tăng hay giáo sĩ).

Hy vọng bài viết trên sẽ giúp cho những ai có người quen hay thân nhân lâm vào chứng bệnh nêu trên có thêm một số kiến thức căn bản để ứng phó, hầu có thể tránh được những điều đáng tiếc có thể xảy ra.
Biết được phương pháp chưa hẳn là có thể trị được bởi vì tất cả cũng còn tuỳ theo nghiệp duyên và phước đức của bệnh nhân.

Hãy cố gắng làm thật nhiều công đức hữu vi lẫn vô vi hôm nay, ngày mai và mãi mãi…
“Đức trọng quỷ thần kinh”
Read More
      edit

Thứ Hai, 31 tháng 3, 2014

Published tháng 3 31, 2014 by ana03 with 0 comment

NHÂN QUẢ BỆNH TƯỢNG TÍCH LUẬN VÀ ẤN CHỨNG.

Nam Hải Quan Âm bồ tát, Dũng bút Vương Kỳ Mưu chủ viết.
chú thích: quyển sách do Ý Sắc Cung Hoành Đường phụ loan trước tác,hoan nghênh in ấn,gieo trồng phước điền.


cung tiếp"Nhân Quả bệnh tượng tích luận" viết sách Ngọc Chỉ.
Hành Thiên Ngọc Chiếu :
Bổn đường chủ tịch Quan ân sư đăng đài.
Thánh thị: cung tiếp ngọc chỉ ban lâm.
Kim Khuyết Ngự Sử Vương Thiên Quân giáng.
thơ rằng: luân hồi khổ hải khổ vô biên,thứ tử trầm luân thật khả ưu,giáng cho chân lý mà cứu độ,từ bi đại nguyện giá thuyền từ.
Thánh thị: tuyên đọc ngọc chỉ,thần nhân phủ phục.
Khâm phụng Ngọc Hoàng Đại Thiên Tôn Huyền Linh Cao Thượng Đế chiếu viết:
Trẫm tại Kim Khuyết,trên nắm 36 trời,dưới quản 72 đất,thống trị thiên vận hóa dục,không lúc nào không nhớ đến chúng sanh,nay có ý sắc Cung Hoành Đường,trong thời gian ngắn ngủi như vậy mà sự nghiệp phổ hóa thật phát triển,thay trời nói đạo,cứu độ chúng sinh,công thật to lớn.Vì đại đạo phổ hóa,đem sự đeo bám của tội nghiệp luân hồi nhân quả làm ảnh hưởng đến vận mệnh và thân thể con người tường thuật cho nhân gian.Trẫm đặc sắc chỉ,mệnh ý sắc Cung Hoành Đường từ ngày tiếp chỉ,lấy kỳ hạn 5 tháng viết sách "Nhân Quả bệnh tượng tích luận",do Nam Hải Quan Âm bồ tát làm tiên phật chủ viết,mệnh Dũng bút Vương Kỳ Mưu làm chánh loan chủ viết.Nguyện thần nhân toàn lực hỗ trợ,không được lơ là,khấu đầu tạ ân.
thiên vận năm Mậu Thìn tháng 5 ngày 5.

Địa Tạng Vương Bồ Tát giáng tựa.

Ôi chao,thế gian như khổ hải luyện ngục,hành hạ và khổ mài hết lượt này đến lượt khác,không ngừng không nghỉ.Tại sao vậy ? gieo nhân trước rồi chịu quả sau;hết nhân trước rồi lại gieo nhân mới,vấn đề ở tại nhân quả thưởng phạt.Sao gọi là nhân quả ? phàm tất cả hành là nhân,phàm tất cả thọ là quả.Kẻ chịu luân hồi,đều là do nhân quả thúc đẩy và cũng là do nhân quả cụ thể hình thành;nói cách khác,muốn thoát khỏi luân hồi thì phải liễu nhân đoạn quả.Nếu không,có nhân tất có quả,luân hồi như ảnh tùy hình,đeo đuổi không dứt được.Phàm người không tin nhân quả,không biết gieo nhân thiện để được quả thiện,mà chỉ tạo nhân ác thì rốt cuộc sẽ bị quả báo.Không biết giác ngộ sám hối,một khi thọ đau khổ lại oán trời trách đất,lại còn buông xuôi theo dòng nghiệp,đủ thứ trường hợp,vừa chịu nhân gieo lúc trước lại tạo nhân mới nữa tức quả báo sẽ tăng gấp đôi,khổ thay,người đời nên suy nghĩ kỹ càng.May có ơn trên từ bi,thương xót người đời linh tánh mê muội vô minh,giáng chỉ ý sắc cung hoành đường viết sách "nhân quả bệnh tượng tích luận" và do đại từ đại nguyện quan thế âm bồ tát chủ viết.sách này trước tác để cứu khổ cứu nạn,là sách có thể giải thoát nhân quả đeo bám cho chúng sanh.Có quyển sách này,người đời nếu đọc kỹ sẽ hiểu rõ nhân quả là gì ? nhân quả bằng cách nào làm cho cuộc đời đau khổ như vậy ? từ đó giúp chúng sinh giải thoát.Bi nguyện của ta là muốn giúp chúng sinh thoát khỏi sự đau khổ của luân hồi nên sẽ đặc biệt cảm ứng:

*phàm là bỏ tiền trợ in,làm sách thánh được phổ hóa.

*phàm là có thể khuyên người bỏ tiền trợ in sách được phổ hóa.

*phàm là tìm đủ mọi cách để sách thánh được lưu truyền rộng rãi.

*phàm là có thể khuyên người lưu truyền sách thánh.

*phàm là có thể giảng nói sách thánh để khai ngộ cho người hướng thiện.
những công đức trên để cầu ta hóa giải oan nghiệp,ta sẽ đặc biệt ban ân,sẽ giao cho địa phủ xử lý.Hy vọng người đời sau khi đọc được quyển sách này sẽ trân trọng hết mình,đừng coi như tiểu thuyết truyện vui thì phước đức lắm,cũng là điều may mắn của người đời.

Địa tạng Vương Bồ tát giáng tựa Phong Nguyên Ý Sắc Cung Hoành Đường.
thiên vận năm Mậu Thìn tháng 5 ngày 12.

Quan Âm Bồ Tát giáng tựa.
mắt nhìn người đời chịu khổ hay thân thể bệnh đau hoặc ân oán tình thù,tự thân không biết làm gì,chỉ vì danh lợi dùng hết tâm trí như là vào thành sầu vậy,đều nằm trong gieo nhân thọ quả.Kéo dài bệnh khổ đều do con người ăn ngũ cốc tạp lương,có vi trùng xâm nhập gây ra.Nhưng phải nghĩ kỹ,nếu không có gây nhân ác thì làm sao ăn vào lại bị bệnh đau.nếu như không có nghiệp nhân thì thân thể làm sao bị những bệnh lạ không trị được ? thậm chí có người dù biết nguyên nhân bệnh đau mà không trị tận gốc được,đủ thứ các loại,đều do nhân quả đeo bám tạo ra.Tuy nhiên không phải tất cả đều như vậy.Giải thích đi sâu vào,một con người có vận số hưng suy thành bại,có người gặp phước vận mọi việc thuận lợi,lại có người gặp toàn bất hạnh vận xui,đều do nhân quả làm chủ cho thuận lợi vì phước báo hay nghịch cảnh do tội nghiệp.Ơn trên giáng chỉ viết sách "nhân quả bệnh tượng tích luận",mệnh ta đảm trách,đó là đem tất cả hiện tượng nhân quả tường thuật kỹ càng,để người đời khai ngộ nhân gieo và thọ quả khác nhau như thế nào ? từ đó thúc đẩy con người gieo thiện nhân hưởng thiện quả,thoát khỏi sự trói buộc của ác quả.Ta vốn mang trọng trách khai mở cho chúng sinh,viết quyển sách thánh này,làm tấm bùa hộ mạng cho họ,mong người đời sau khi đọc xong được giác ngộ,từ đó hiểu rõ nhân quả mà không còn sợ hãi nữa.Muốn thoát khỏi sự dày vò của nhân quả đeo bám thì chỉ có một con đường duy nhất là gieo nhân thiện hưởng quả thiện.Trước lúc viết sách,cảm tạ địa tạng bồ tát vì sách thánh ban ân cảm ứng,ta cũng có đại bi nguyện khích lệ người đời:
1.vì chúng sanh giải trừ nhất thiết bệnh khổ.
2.nhân quả nghiệp chướng đeo bám.
3.linh tánh bị trở chướng bất an.
4.trọng nghiệp nhiều kiếp không dứt.
5.nghe tiếng cứu khổ,tùy ứng giảm một nữa tội nghiệp.
phàm có chúng sanh trợ in sách thánh tạo công đức cầu nguyện,ta sẽ tùy đại bi nguyện này giúp đỡ.Mong sách viết xong,mọi người trợ in,cùng thọ thiên ân,như trên làm lời tựa.

Quan thế âm bồ tát giáng tựa Phong Nguyên Ý Sắc Cung Hoành Đường.
thiên vận năm Mậu Thìn tháng 5 ngày 19.

PHẦN 1: PHÂN TÍCH HIỆN TƯỢNG LÚC ĐẦU NGHIỆP CHƯỚNG ĐEO BÁM.
Quan âm bồ tát giáng

thơ rằng: phàm không có gió làm sao có sóng,có dấu hiệu nên phải đề phòng,nghiệp chướng đeo bám khổ vô cùng,mau chóng giác ngộ khỏi bận xuông.
phàm việc gì không có lửa làm sao có khói,chỗ trống sao không có gió thổi vào ? thường là trước khi xảy ra chuyện đều có điềm,vấn đề là bản thân có cẩn thận quan sát không ? Nếu sớm phát hiện thì khỏi phải chịu khổ,xưa cũng đã có ghi chép lại.Nghiệp chướng đeo bám,đau khổ vô cùng,như lửa đốt thân,nhưng trước tiên đều có điềm báo,nếu như hiểu được điềm báo này thì có họa nào mà không thể tránh được.Tục ngữ có câu "thiếu nợ thì trả tiền".thiên hạ không có việc gì không giải quyết được,trước khi viết sách,ta sẽ nói rõ những hiện tượng này để khai ngộ cho người đời.

Đại lược nghiệp chướng có thể chia ra như vậy: nghiệp kiếp trước,nghiệp nhiều kiếp,nghiệp nhẹ,nghiệp nặng.Đương nhiên,trong các loại nghiệp chướng trên lại phân ra: dâm nghiệp,sát nghiệp,khẩu nghiệp..v.v.Nhưng,ở đây không phân biệt giải thích rõ,chỉ phân tích điềm báo của trước nhiều nặng nhẹ thôi,còn lại cũng cùng một lý thông.

*nghiệp kiếp trước: tức là tội nghiệp tạo ở kiếp trước,trước lúc quả báo đến,thì bắt đầu có điềm nơi đương sự,ngay việc làm lời nói có vấn đề.Nói rõ là người đó bình thường sinh hoạt không có gì đặc biệt,nhưng trước khi quả báo đến thì lời nói việc làm rất quái gỡ,nếu không phát hiện sẽ bị trả báo.

*nghiệp nhiều kiếp: là nghiệp tạo tích lũy nhiều kiếp,nhân tố bất nhất,là nhân quả không thể trả trong kiếp tới.Điềm báo hiệu là ở người thân xung quanh,như cha mẹ,vợ con,thậm chí anh em chị em,đương nhiên,đối tượng mang điềm báo cũng ít nhiều có liên quan nhân quả.

*nghiệp nhẹ: nghiệp tạo mức độ nhẹ mà còn là nghiệp kiếp trước,điềm báo cũng bắt đầu từ đương sự,thường là trong giấc mơ hay là đau bệnh,nếu không phát hiện thì sẽ trả nghiệp đến hết mới thôi.

*nghiệp nặng: phức tạp và phiền phức,không nhất định là nghiệp kiếp trước hay nghiệp nhiều kiếp.Trước khi trả báo,điềm báo không nhất định ở đương sự nhưng có một điều chắc chắn là vận hạn gia đình tất bại.

Như trên nói rõ,người đời có thể biết được có sự đeo bám của nghiệp chướng,thậm chí trong điềm báo đó có thể phân biệt nghiệp thuộc loại nào.Ví dụ như : điềm có nhiều ác vong hiển hiện thì đa phần thuộc sát nghiệp,ngôn ngữ thất thường hoặc quan hệ nhân sự tự nhiên đỗ vỡ thì là khẩu nghiệp;sắc tướng thay đổi rõ ràng,hôn nhân không thuận lợi,bao gồm đã kết hôn hay chưa kết hôn,đều thuộc dâm nghiệp.Nghiệp nhân như thế nào thì điềm báo như thế ấy,những điềm như vậy là hiện tượng có thể hóa giải.Nhưng nếu điềm báo không rõ ràng,kỳ lạ hỗn tạp thì đó là hiện tượng nghiệp chướng khó hóa giải,kết quả đeo bám sẽ gây tổn hại nghiêm trọng,nên cẩn trọng đề phòng.Gặp hoàn cảnh này,tốt nhất nên yêu cầu hóa giải,không nên để kéo dài,sẽ khó thoát được.Ở đây ta đã nói rõ sơ lược vấn đề,những phần về sau sẽ nói tường tận hơn,mong người đời đọc kỹ để hiểu rõ tình hình nhân quả luân hồi đeo bám như thế nào mà tận dụng thân sức của mình hành thiện.

PHẦN 2: KHUYÊN CHÁNH TÍN NHÂN QUẢ.
Quan âm bồ tát giáng
thơ rằng:nghiệp trước nay trả nhân và quả,đeo bám họa phước sự tường tận,minh minh giám sát vô tư báo,khổ tâm khuyên nhủ mọi chúng sinh.

Nhân quả đeo bám phức tạp,không thể vài lời nói rõ,thậm chí có thể nói trong ngày thường bất cứ một động tác hay ý niệm đều làm sản sinh nhân quả.Đây không phải lý luận trống rỗng huyền hoặc;nếu không có nhân quả báo ứng,Mục Liên tôn giả sao không phá được cửa địa ngục cứu mẹ ?

Tác dụng của nhân quả là thưởng thiện phạt ác,là một định luật chí công vô tư và cũng là một thực tiễn cụ thể;đương nhiên,cuộc đời đều do nhân quả quán xuyến,do đó mới có cuộc sống nhân loại ngày hôm nay.Cho đến ngày nay,trước mắt vẫn chưa có một lý luận nào có thể trả lời cho quan hệ giữa con người với con người,liên hệ ra sao ? chỉ có "nhân quả luận" là chấp nhận được.Do đó,người đời cần hiểu rõ một điều: "nhân quả" không lúc nào rời khỏi hai bên phải trái của con người,chỉ cần hiểu rõ nó,thể hội nó,mới đánh tan sự trói buộc của nó,mới giải thoát khỏi sự đeo bám của nó,làm cho linh tánh vĩnh viễn nhảy ra khỏi sức hấp dẫn của luân hồi nhân quả.Nhưng ở đây không phải là kêu gọi các con sợ nhân quả,sợ sức hấp dẫn của nó,có nhân tức có quả,biết trước để tránh mà thôi;muốn chống cự lại nó,cần phải quen thuộc nó.Rất nhiều người rơi vào luân hồi cũng chỉ vì không quen thuộc nó,mới rơi vào vòng xoáy của nó.Mục đích của những lời nói này là để các con hiểu rõ nhân quả quan trọng như thế nào đối với con người,từ từ mà đọc xuống rồi sẽ có được tâm đắc,cởi bỏ dần sự trói buộc ,càng hy vọng giải thoát khỏi nó.

PHẦN 3: KIẾP NÀY CÂM ĐIẾC CHỊU QUẢ KHỔ,ĐỀU DO ÁC KHẨU KHÔNG TỒN ĐẠO.
Quan âm bồ tát giáng

Thánh thị: ta phụng chỉ trước tác quyển sách này,bằng cách phân tích lý luận hợp lý thỏa đáng để hiển hiện tướng trạng của nhân quả,thu nhặt nhiều điều mới lạ,hoặc bằng cách tự hỏi và trả lời,hoặc do chánh loan Dũng bút hỏi và ta phân tích trả lời,hay là dùng những trường hợp có thật để phân tích.Đề tài luôn thay đổi,không những tránh gây nhàm chán mà còn có thể thu hút độc giả hứng thú xem,càng có thể đàm luận vấn đề một cách rõ ràng từ mọi góc độ.

Dũng bút: bồ tát nói như vậy,xin cho đệ tử thỉnh giáo một vấn đề : kiếp này câm điếc vì nhân gì ?

Bồ tát: kiếp này bị điếc do kiếp trước nghe pháp,nghe đạo mà trong lòng không tin;hoặc khi cha mẹ dạy bảo mà xem như trâu nghe gãy đàn,không chịu thọ giáo;còn người câm là do hủy báng đạo hay ác khẩu mắng song thân.

Dũng bút: vậy những người chịu quả khổ như vậy muốn hóa giải có được chăng ?

Bồ tát: được,nhưng cơ hội thành công không nhiều.Tạo nghiệp nhẹ dễ hóa giải,tạo nghiệp nặng thì ác quả khó giải.Giải pháp là tạo nhân gì thì bù đắp theo nhân đó,kiên trì lâu dài sẽ thấy hiệu quả.

Dũng bút: ý là kẻ điếc sữa lỗi bằng cách nghe đạo tín phụng lại khuyên người hướng đạo để hóa giải nhân trước;kẻ câm thì xiển dương diệu lý của đạo để độ người hướng đạo mà hóa giải tiền nghiệp.Nhưng đã câm điếc thì làm sao độ người,xiển đạo ?

Bồ tát: tai không nghe được,miệng không nói được,thì có văn tự thay thế;lấy sách xiển đạo,độ người bằng cách này cũng được.Sau cùng,dùng hoàn cảnh nhân quả báo ứng của mình để cảnh giác cho người là cách hoá giải nghiệp chướng hay nhất.

Dũng bút: lại xin hỏi bồ tát,gieo nhân gặt quả không nhất định toàn là tiên thiên.Những kẻ câm điếc có khi từ hậu thiên hình thành,đối với trường hợp như vậy có thể biết trước điềm báo và đề phòng được không ?

Bồ tát: đương nhiên có thể,người tạo nhân câm điếc,trước lúc quả báo đến thường có những giấc mơ thấy được cảnh mình tạo nghiệp,những điềm báo này thường xảy ra ở đương sự,có thể phát giác được hay không thì còn tùy vào tạo hoá của đương sự,đương nhiên là cũng có nhiều nguyên nhân nhiễm bệnh đưa đến quả báo,như thế thì dễ phòng tránh hơn.

Dũng bút: cầu mong bồ tát giải thích tường tận.

Bồ tát: khi một người sanh bệnh,mà bệnh này có thể dẫn đến câm điếc thì phải một bên chữa trị bệnh,một bên tạo công đức hóa giải nghiệp chướng,hai cái cùng thi hành thì có thể hóa giải nghiệp báo.

Dũng bút: có thể tránh khỏi quả báo sao ? vậy thì đâu phải định số nữa ? nếu bệnh tình có thể dẫn đến câm điếc mà kết quả không bị thì có phải bận rộn xuông không ?

Bồ tát: nói như vậy không đúng,quả báo là cố định,nhân nào quả nấy,nhưng có thể tránh khỏi thì là do có công đức bù đắp.Cũng có thể nói rằng,công đức đã hóa giải ác nhân.Ta lấy ví dụ : con nợ người ta một số tiền lớn mà trốn ra nước ngoài,sống tự tại khá lâu,nhưng sau này lại gặp mặt chủ nợ thì có phải con phải trả tiền không ? tuy rằng quốc độ không giống,pháp luật có khác,con thoát khỏi sự xét xử của pháp luật nhưng chủ nợ có để yên cho con không,cách đòi nợ sẽ đủ mọi hình thức,nếu con muốn vượt qua yên ổn thì phải làm sao cho chủ nợ cam tâm,bằng cách này hay bằng cách khác như gia ân cho hắn hay người thân của hắn.

Dũng bút: đệ tử hiểu rồi,nhân quả cũng vậy.Ngươi tạo nhân gì thì cái quả sẽ không trốn được,nhưng bản thân có thể chọn lựa cách trả như thế nào,không nhất định phải cam tâm chịu đựng.
Bồ tát: đúng vậy,một khi đã tạo nghiệp nhân thì phải trả,chỉ có phương thức hoàn trả không giống nhau thôi.

PHẦN 4: GIEO NHÂN HÓA GIẢI NHÂN TRƯỚC,CHÚNG THIỆN HỘ TRÌ ĐƯỢC TIẾNG TỐT.
Quan âm bồ tát giáng

thánh thị: người đời chịu khổ,dày vò không dứt,đó là do nghiệp chướng tạo thành;nhân sinh khổ hải đều do ác nghiệp hình thành.Thương xót thay người đời trầm luân khổ hải không thể tự cứu,mỗi mỗi nghe tiếng cứu khổ;nhưng cuộc đời khổ,khổ được bao nhiêu ? phải từ căn nguyên mà trị,biết được gieo nhân ắt có quả mà thận trọng để tránh hậu hoạn.

Dũng bút: bồ tát đại từ bi,người người đều biết.Xin cho đệ tử thỉnh giáo,chứng tê liệt của trẻ nhỏ hình thành như thế nào ạ ?

Bồ tát: do phá hoại cầu đường mà tạo thành,hoặc là tạo những ác nhân để lại họa hoạn khó trị tận gốc,mới bị quả báo tàn tật;loại quả báo này,đa số là tạo nghiệp nhân bất lợi cho người khác mà hình thành.

Dũng bút: loại bệnh này cũng có phân biệt tiên thiên hậu thiên,vậy phương pháp hóa giải cũng như phần trên đã nói phải không ?

Bồ tát: đúng vậy.

Dũng bút: vậy quả báo hậu thiên hình thành,có thể đề phòng trước được không,nếu được thì triệu chứng như thế nào ?

Bồ tát: được,trước khi quả báo hình thành,thường là có ác mộng liên miên,thậm chí khi ác mộng sẽ nói ra nhân đã tạo lúc trước.

Dũng bút: ừm,mỗi loại quả báo trước khi hình thành,người bên cạnh nếu phát giác,có thể giúp được đương sự không ?

Bồ tát: được,vấn đề là đương sự có chấp nhận sự chỉ đạo giúp đỡ mà tạo lập công đức không.

Dũng bút: nếu như quả báo đã hình thành,có nghĩa là đã thọ báo,mà loại bệnh tàn tật này với nền y học hiện tại rất khó trị dứt được;xin hỏi bồ tát có cách nào hoá giải được không ?

Bồ tát: đương nhiên là có.Nhưng mà phòng bệnh vẫn hơn là trị bệnh,cũng có nghĩa là phòng bệnh thì dễ,chữa bệnh rất khó.

Dũng bút: vậy thì tàn khốc quá ?

Bồ tát: khi gieo nhân,những gì mình tạo cho người khác,bản thân phải chịu lại tàn khốc hơn nhiều.

Dũng bút: rất khó nhưng không phải là tuyệt vọng,phải có một tia hy vọng chứ,xin bồ tát khai thị.

Bồ tát: chứng câm điếc,sau khi hóa giải được,nếu độ được trăm người,3 năm không thối chí,được 100 quả,sinh phúc huệ linh thần như thoát thai hoán cốt,chứng bệnh được tiêu.Đây là cách lấy công độ người hướng thiện làm nguyên động lực,lấy sức của chúng thiện hướng vào một người có thể kích phát thân người và linh thần tiềm ẩn lực tương khế hợp,đột phá chướng ngại.

Dũng bút: vậy chân tay tàn tật cũng như vậy sao ?

Bồ tát: nguyên tắc tương đồng,tốt nhất là tự thân thực hành,thì càng có lợi cho việc lành bệnh.Cũng có nghĩa là dùng thân tàn tật bôn ba độ sanh,chúng thiện hộ trì thì càng dễ phát sinh kỳ tích hiển ứng,giải thoát khỏi trói buộc phàm thân.

PHẦN 5: BỒ TÁT TỪ BI THÍ NHÂN TÂM,TẦM THINH CỨU KHỔ PHẬT KHÔNG TỪ.
Quán âm bồ tát giáng

thánh thị: ta tuy chứng phật quả từ lâu,nhưng không nguyện thành phật,vì chúng sinh còn khổ nhiều,ta trắc ẩn khó nén lòng,tứ đại hoằng nguyện,cứu độ chúng sinh khổ đau.Nhưng,chúng sinh mênh mông,có bao giờ biết được lòng từ bi của phật,người nói ân cần,kẻ nghe lơ là,thật đau lòng quá.A di đà phật.

Dũng bút: bồ tát nhân từ,tứ đại hoằng nguyện;thánh hiệu Nam Hải Cổ Phật người người đều biết,nhưng mỗi lần hiện ứng cứu khổ đều là Quan âm bồ tát.Người có trí tuệ nên hiểu tấm lòng từ bi cứu khổ của bồ tát,ừ đúng rồi,đệ tử muốn thỉnh giáo một vấn đề,bồ tát từ bi,nếu như có người bị bệnh nhân quả,phát nguyện trợ in sách "nhân quả bệnh tượng tích luận",lưu truyền,giảng giải,khuyến hóa,công đức độ chúng có thể được bồ tát đặc biệt phù hộ giải trừ bệnh khổ không ?

Bồ tát: hỏi hay lắm,ta được ơn trên giáng chỉ viết sách nhân quả thì cũng được cho phép giải trừ bệnh chướng.Công đức in tặng một số sách thiện,hướng người về nẻo thiện đều có thể giải trừ nghiệp chướng,tất cả ta sẽ tùy cảm ứng giúp đỡ giải trừ.

Dũng bút: đúng là tốt quá,nếu đệ tử tuyên bố điều này cho người đời liệu có gia tăng phiền phức cho bồ tát không ?

Bồ tát: không đâu,nhưng ta xin nói trước,nhân quả có định luật,bù trừ cũng có định luật,ta không thể làm trái luật trời,chỉ trong phạm quy cho phép mà ban ơn hóa giải cảm ứng.

PHẦN 6: NHÂN QUẢ NGHIỆP BÁO LUÂN HỒI CHUYỂN,ĐỀ HỒ QUÁN ĐẢNH NGỘ TUÂN HÀNH.
Quan âm bồ tát giáng

thánh thị : từ khi viết sách,ta nhận được yêu cầu hóa giải nhân quả từ rất nhiều phật tử hữu duyên cùng sự lập nguyện trợ đạo của rất nhiều thiện tín,tâm ta có lúc vui,lúc buồn.Vui vì có người trợ đạo,sách thiện được phổ hóa càng ngày càng rộng rãi,buồn vì thế gian nhân quả báo ngày càng kịch liệt,thật đáng lo thay.
Dũng bút: bồ tát từ bi xót thương,luôn nhớ nghĩ đến chúng sanh,trong ngôn từ có thể nhận ra được.Nhưng mà quả báo thuộc thiên luật,liệu có cách hóa giải nào không ?

Bồ tát: "nhân quả báo" là sự đeo bám của nghiệp lực,cũng là nhân bị lưu chuyển trong luân hồi,mà sản sinh sức mạnh tạo thành quả,do đó cách tránh hay nhất là cẩn trọng gieo nhân,từ không nhân dẫn không quả.Nhưng đây là phương pháp tiêu cực,vì khi đã sống làm người,con người là sự dung hợp của linh tánh và thân giả,mà thân giả lại phải dựa vào ngũ hành sinh tồn,ngũ hành biến hóa tự tạo ra các yếu tố dụ hoặc làm người dễ dàng gieo nhân.Vì thế,chỉ có tích cực kết thiện duyên rộng rãi,tạo nhiều nhân lành,để bù đắp những
ác nhân mình đã gieo hay sẽ gieo thì mới là thượng sách.

Dũng bút: đây chỉ là lý luận,nhưng trong quá trình thực hành phải làm như thế nào ? có nghĩa là làm cách nào để giảm nhẹ sự đeo bám của nghiệp lực,giảm đến mức nhỏ nhất.

Bồ tát: ở đây có rất nhiều phương pháp,ví dụ như tạo công đức hồi hướng;đương nhiên,một số người không biết ý nghĩa chân thật của nhân quả nhưng chưa mưa phải biết lo dù,tu thiện công đức để tiêu nghiệp,trong vô hình hóa giải được sự đeo bám của nghiệp chướng.Vì thế,nghiệp chướng đền trả phải có thời gian,chưa đến lúc thì tuyệt nhiên không được phát sinh,trong lúc bình thường chưa thọ quả thì nên hồi hướng giải nghiệp là hay nhất,ngoài ra,lúc thọ nghiệp báo đền trả nếu như có thể phát tâm lập nguyện thực tiễn,không cần biết là thiện nguyện nào đều có ích cho việc giải nghiệp.Sau cùng,có một chiêu sát thủ cực hay,đó là cầu tu đại đạo,lập nguyện trì chay.

Dũng bút: cầu tu đại đạo,lập nguyện trì chay có thể giải nghiệp sao ? xin bồ tát nói rõ để khai ngộ cho con.
Bồ tát: vì cầu tu đại đạo tất có ma khảo,đạo khảo,thử thách đủ thứ,thiên luật quy định,phàm các loại thử thách đều để tiêu nghiệp chướng.cầu đạo tất phải chịu khảo,qua cửa tức thành tựu,lại có thể tiêu nghiệp,là nhất cử lưỡng tiện,cớ sao không làm ? mà trì chay là phát tâm không sát sinh,không tổn sanh,lấy nguyện nhân đức này hoá giải khí cang khốc của oan nghiệp,rất hợp lấy nhu chế cương,sao có lý không thành.

PHẦN 7: SƯ SINH ĐỐI ĐÁP MỘT ĐÔI LỜI,PHƯƠNG PHÁP GIẢI NGHIỆP TIN KHÔNG GIẢ.
Quan âm bồ tát giáng

thánh thị: nhân quả bệnh đại để phân làm 2 loại "tinh thần" và "thân thể",cũng phân làm "hữu hình" và "vô hình".mà vô hình thường thắng hữu hình vì bệnh nhân quả vô hình khó giải quyết hơn.

Dũng bút: đệ tử cũng cảm thấy như vậy,căn cứ vào mười mấy năm vì thiện tín giải trừ oan nghiệp nhân quả mà tổng kết,thì đúng như vậy.Duy trong đó cũng có ngoại lệ,nhưng khi có ngoại lệ tức có nhân duyên,có thể xin bồ tát khai thuật được không ?

Bồ tát: đương nhiên có thể,trường hợp ngoại lệ là,khi có người phát nguyện hòa giải,oan nghiệp rời đi,nhân quả vô hình làm bệnh không trị mà hết,việc này khỏi giải thích,nhưng ngoài ra có người không thuốc không có gì đặc biệt mà hết thì cái này cần phải giải thích rõ;đại khái chia làm 2 loại,một là thời hạn nghiệp báo đền trả đã hết,bọn chúng tất phải ra đi,mà toàn bộ chứng trạng người thọ chịu đều do nghiệp chướng tạo thành nên một khi nó ra đi thì không thuốc mà khỏi,hai là người thọ chịu có nguyên thần kháng lực tăng trưởng tự đẩy hoặc tạm thời áp chế được nghiệp chướng mà không thuốc tự hết.

Dũng bút: bồ tát nói trong trường hợp thứ hai,xin hỏi là làm cách nào tăng trưởng nguyên thần kháng lực mà tạm thời áp chế được nghiệp chướng ? có thể để lại hậu hoạn sau này không ?

Bồ tát: để tăng trưởng nguyên thần kháng lực có những cách sau : tĩnh tọa,tụng đọc chân ngôn,thần chú,kinh điển với các cách cầu tiên phật gia trì linh thần,mà tạm thời chế ngự nghiệp chướng nhưng để lại phản ứng phụ,là vì nguyên thần tăng mạnh làm củng cố sự làm chủ nhục thân giả thể,nghiệp chướng không dễ xâm nhập tạo cơ hội cho hữu hình nhiễu loạn,đó là phản ứng phụ,chỉ giảm nhẹ mà thôi.

Dũng bút: vậy không phải là đào tường phía đông đắp tường phía tây sao ?

Bồ tát: không phải hoàn toàn như vậy,như thế không những giảm nhẹ mà còn từ từ hóa giải,vì từ vô hình chuyển sang hữu hình thì có thể trị bằng thuốc.Cũng như "đánh trước mặt dễ tránh,đâm sau lưng khó đỡ".Con có thể nói không ích lợi sao ?

Dũng bút: nói cũng đúng vậy,cảm tạ bồ tát khai thị,đệ tử như bỗng nhiên thông suốt.Nhưng đệ tử có một nghi vấn xin bồ tát khai thị ?

Bồ tát: nói thử xem.

Dũng bút: bồ tát và đệ tử phụng chỉ viết sách,sách tên "Nhân Quả bệnh tượng tích luận".Điều đó có nghĩa là tường thuật hiện tượng nhân quả bệnh trạng;từ khi bắt đầu đến nay,một số lý luận giải thích đã được bồ tát khai thị.Mà một số thiện tín cũng hiểu rõ "nhân quả phải có công đức hóa giải" nhưng họ không thể biết được bệnh nào là do nghiệp chướng nhân quả,bệnh nào không phải,vậy xin bồ tát khai thị.

Bồ tát: quả nhiên không hổ danh vô cực kim loan chuyển thế thông thiên linh bút,chúng ta sẽ đợi đến phần sau giải thích nói rõ.

PHẦN 8 : TINH THẦN SAI LOẠN VÔ BIÊN KHỔ,KHAI THỊ THÀNH HÌNH CÓ NHÂN XA.
Quan âm bồ tát giáng

Thánh thị: hiểu rõ nhân quả hiện tượng hình thành thì mới tránh được nhân hình thành,mới giải thoát khỏi nghiệp quả báo;càng có thể hiểu rõ nhân quả,biết được đường đi nước bước của nó,càng dễ dàng giải thoát khỏi luân hồi nhân quả.Tục ngữ có câu:"gỡ nút cần phải có người thắt nút",lại nói một vật khắc một vật.Đây càng nói rõ mọi thứ vạn vật đều có cách giải quyết.Cũng muốn nhắn nhủ đến những người đang chịu đau khổ bệnh tật nên hiểu rõ nhân quả mà "tu nhân kết thiện duyên rộng rãi" có thể làm cuộc đời bình an thuận lợi.

Dũng bút: đúng vậy,lời của bồ tát đúng như kim đâm một nhát liền thấy máu.Một số người chưa chịu qua bệnh khổ do nhân quả,không biết khổ ra sao ? muốn thoát mà không biết đường nào có thể đi,nay bồ tát giải nói "hiện tượng nhân quả" làm trang bị cho mọi nhà hiểu rõ nó,tự mình không dùng có thể để giúp người thì công đức vô lượng.

Bồ tát: đúng vậy,viết sách không phải để chữa tức thì dùng,mà làm cho mọi người hiểu được lý lẽ trong đó,tự mình không dùng đến thì có thể giúp người cũng là tạo một việc công đức,chuẩn bị mà dùng còn hơn không chuẩn bị trước.

Dũng bút: đệ tử thường thấy những thiện tín nhờ trợ giúp hoá giải đa số là người bị thần kinh sai loạn.Đối với hiện tượng hình thành nhân như vậy,làm cách nào tránh hay thoát khỏi,xin bồ tát chỉ dạy.
Bồ tát: thần kinh sai loạn thuộc quả báo từ vô hình gây ra,trong y lý thuộc khoa thần kinh,nhưng khả năng trị tận gốc rất thấp,nguyên nhân cũng do nghiệp lực đeo bám gây ra.Nhân hình thành của nó đa số do "sát nghiệp" sở tạo thành,cũng có thể do ngỗ nghịch với tôn trưởng mà thành.Nhưng nghiệp báo đền trả không liên tiếp trong 2 kiếp là được,có người bị đeo bám liên tiếp đến nhiều kiếp.Phương pháp tốt nhất là siêng năng phóng sanh rồi hồi hướng công đức hoặc trì tụng in tặng "vãng sanh phóng sanh chú",trong ngày thường sinh hoạt nếu lúc mê lúc tỉnh và thấy người lạ hay vật lạ đeo bám phiền nhiễu thì chính là lúc sắp trả nghiệp,lúc đó nếu không có đại thiện nguyện hay đại công đức bù đắp thì ắt sẽ thọ quả.

Dũng bút: nhưng mà,có rất nhiều việc đột nhiên đến,căn bản không có điềm báo gì cả thì làm cách nào hóa giải nó ?

Bồ tát: không có việc đột phát tạo nên thần kinh sai loạn ?

Dũng bút: nhưng đệ tử từng xử lý qua một vụ bị thần kinh sai loạn,theo người thân của đương sự nói là đang bình thường khỏe mạnh,tự nhiên từ từ khác thường rồi dẫn đến không trị được luôn.
Bồ tát: người thân của anh ta đương nhiên không biết rồi.Vì điềm báo của loại nghiệp quả này chỉ xảy ra trên thân người bệnh nhưng đương sự không quan tâm để ý nên đến lúc trả nghiệp,người thân cứ tưởng là đột nhiên xảy ra.

Dũng bút: loại hình quả báo này rất thường gặp,xin bồ tát khai thị cách hóa giải.
Bồ tát: tình trạng quả báo thường gặp nhất,ngoài "thần kinh sai loạn" ra còn có thuộc về "thân thể chứng trạng",kỳ sau sẽ nói rõ.Còn cách hóa giải đối với tình hình trên thì hơi phức tạp,nếu như vào lúc chưa xảy ra thì còn dễ trị nhưng đợi đến lúc nghiệp chướng làm tổn hại quá nhiều thì thật khó,trừ việc tạo công đức giải oan ra,phải lập nguyện trường chay để giải trừ sát nghiệp,phải nhờ tiên phật trợ linh để củng cố nguyên thần.Do đó,bởi vậy bình thường phải chú ý cách giảihóa"nhân hình thành",đừng để tới lúc hoạn nạn mới ôm chân phật thì đã trễ rồi.

PHẦN 9: ĐỘT NHIÊN BỆNH TRẠNG ĐEO BÁM LÂU,CÁCH HAY THOÁT KHỔ ĐỪNG NÊN QUÊN.
Quan âm bồ tát giáng

Thánh thị: chứng trạng quả báo thường gặp nhất,ngoài tinh thần sai loạn còn có thuộc về chứng trạng thân thể,cũng tùy nơi tùy lúc mà gặp phải.Mục đích viết sách của ta,chủ yếu khuyên người đời "phòng bệnh hơn chữa bệnh",hy vọng người đời sau khi đọc kỹ sách này,biết được nhân hình thành nghiệp báo tránh tạo ác nghiệp nữa.

Dũng bút: đúng vậy,tin tưởng rằng mọi người có thể hiểu được tính chính xác của câu nói này,mà từ đó tạo dựng cho mình một phương châm sống đúng,có thể làm giảm đi rất nhiều đau khổ phát sinh,đồng thời tạo thêm công đức phòng thân về sau,mong nguyện tấm lòng nhỏ bé này sẽ cống hiến cho muôn ngàn chúng sinh được lợi ích.

Bồ tát: chứng trạng quả báo trên thân thể gồm các loại sau như: chứng trạng cơ quan bộ phận nào đó,chứng trạng ngoại biểu bì và chứng trạng khí huyết kinh mạch,tất cả gồm 3 loại,mà thường gặp nhất và cũng khó trị nhất là chứng trạng cơ quan bộ phận nào đó,đại bộ phận hiện tượng gồm: đau sưng trước ngực hay là cảm giác tắc nghẽn tức ngực.Ngoài ra còn có bệnh đau chạy khắp người,hôm nay tại ngực,ngày mai tại lưng hoặc là ở chân.

Dũng bút: nhớ lại những hiện tượng này,đệ tử đã từng xử lý theo yêu cầu của thiện tín,mà theo ân sư thánh thị sắp đặt hoá giải cũng rất phức tạp,mong bồ tát khai thị thêm ạ.

Bồ tát: nhân hình thành của hiện tượng này đa phần là tạo nhân ác "hại người chí mạng,có thù phải trả",mà nghiệp nhân đền trả đa phần là cách một kiếp,loại nghiệp lực này đặc biệt hiện rõ nơi người tu đạo,mục đích của nó là kết liễu một lần hoặc chịu khổ đợi thử thách tiêu nghiệp.

Dũng bút: sao lại như vậy ? đó không phải làm cho người ta nghe đạo mà thối chí sao,hoàn toàn ngược lại với ý chỉ quảng độ hướng đạo.

Bồ tát: sai rồi,sự phát sinh quả báo như vậy,nếu như ứng trên thân người bình thường thì chết ngay tức khắc,nghiệp loại này là mạng đền mạng;nhưng với người tu đạo là "lấy khảo thay mạng",không đến nỗi chí mạng,đó là cái đáng quí của đạo,là chỗ trân quí của tu trì phụng hành.

Dũng bút: vậy hiện tượng điềm báo này là gì ?

Bồ tát: điềm báo của hiện tượng này đa phần ở "xung sát" gây nên,sát thuộc âm,âm nhập dương thể,mà khi sát ra đi thì nghiệp lực gặp trống khởi tác dụng,cuối cùng hình thành đau bệnh vô hình.

Dũng bút: như vậy xung sát thật nguy hiểm ?

Bồ tát: nếu như có loại nghiệp này,đương nhiên phải tránh xung sát,nếu không chỉ cần cúng giải xung sát là được.

Dũng bút: vậy phải chú ý tránh miễn xung sát,lại phải hiểu rõ có nhân cách thế không,như vậy mới đề phòng và tránh được hiện tượng này xảy ra.

Bồ tát: đại để là như vậy.Nhưng cũng có tình hình ngoại lệ,ví dụ như vô ý tạo công đức lớn,âm đức hay là người tu thiện công đức lâu dài,phước huệ tích lũy theo năm tháng,tiêu trừ nghiệp chướng.Cũng có khả năng điềm báo mới bắt đầu thì đã giải trừ được,đương nhiên có mặt tốt cũng có mặt xấu,đó là ngày càng nặng hơn,thời gian điềm báo và thọ nghiệp chỉ trong sát na,gần như nối liền nhau mà đến.

Dũng bút: bồ tát có thể cho một ví dụ nói rõ không ?

Bồ tát: ví dụ như xung sát,cái "đoàn thể nghiệp" này đã tồn tại,trên thân người xung sát mới bắt đầu biến hóa đã được tiên phật giải trừ,sát đã đi xa,trong thời gian này nghiệp thấy khoảng trống sau khi xung sát liền nhập vào khởi tác dụng tạo nên quả báo.nhưng do người này có tích lũy phước huệ nên tiêu trừ quả báo,trong sát na hiện tướng lạ rồi tiêu tan.

Dũng bút: cũng có thể nói rằng khi bị xung sát,phước huệ đã lắp đầy chỗ trống mà tránh được quả báo.

Bồ tát: đương nhiên,nhưng mà còn phải xem phước huệ sâu cạn mà quyết định.

PHẦN 10: DÂM NGHIỆP TẠO NÊN HẬU HOẠN,NHÂN SINH BỆNH KHỔ CÀNG KHÔNG DỨT.
Quan âm bồ tát giáng

Thánh thị: trong quả báo có khá nhiều trường hợp đặc thù,đó là trường hợp tạo dâm nghiệp,gọi là đặc thù vì hiện tượng trả báo.Nói cách khác,rất dễ dàng phân biệt ra nghiệp báo trước mắt có phải dâm nghiệp không.

Dũng bút: xin bồ tát cho ví dụ nói rõ.

Bồ tát: dâm nghiệp đền trả có phân làm hai loại thuộc nam và nữ,người nam thọ nghiệp rõ ràng nhất là ngày càng suy kiệt,phụ nữ thì có nhiều trạng thái như tâm tư hành vi bất chánh hoặc tự chấp nhận đọa lạc hoặc mơ thấy oan nghiệp đeo bám làm ngày càng ủy mị,nhưng đây là thiểu số.

Dũng bút: sao lại có sự phân biệt như vậy ?

Bồ tát: vì "dâm nghiệp nghiệp lực thuộc khí cực âm",phiền nhiễu người nam tổn dương,phiền nhiễu người nữ trợ âm nên tơ tưởng bất chính.

Dũng bút: vậy tất cả những cô gái phong trần đều thuộc diện bồ tát nói đến sao ?

Bồ tát: đại khái là như vậy,nhưng có trường hợp không phải gái phong trần cũng bị.

Dũng bút: vậy trước khi dâm nghiệp nghiệp lực đến,thường có điềm báo gì ?

Bồ tát: dâm nghiệp nghiệp lực thuộc khí cực âm nên sẽ tạo nên ma chướng,quả báo của dâm nghiệp quan trọng ở chỗ ma chướng.

Dũng bút: hiện tượng ma chướng sẽ như thế nào ?

Bồ tát: thường gặp nhất là ỷ mộng,thấy mình quan hệ với quỷ ma,bị âm khí xâm nhập,đó là hiện tượng của người nam,còn nữ cũng vậy,đa số do tâm ham muốn hư vinh và tư tưởng cực đoan dẫn đến.

Dũng bút: lúc gặp ỷ mộng,và các hiện tượng người nữ gặp phải đều thuộc nhân tố hậu thiên,như vậy thì phòng tránh không được rồi,có thể phân biện điềm báo trước được không ?

Bồ tát: nhân tố hậu thiện thì giải quyết dễ dàng,nếu là "quỷ mê tâm khiếu" thì khó rồi,người nam lúc bị ỷ mộng có thể kiềm chế cảm quan của mình không tiếp nhận sự vật động tịnh màu đỏ;nhưng nếu như tiềm ý thức bị nghiệp lực dẫn dụ thì đành bất lực thôi,tình hình người nữ cũng vậy;do đó,để thoát khỏi sự trói buộc của dâm nghiệp nghiệp lực thì trước tiên cần phải "thanh tâm quả dục".

Dũng bút: đệ tử tiếp nhận xử lý những trường hợp như vậy,bản thân thiện tín hết mình kiềm chế nhưng ma chướng hoành hành mãnh liệt,vậy nên phải làm gì ?

Bồ tát: tất cả ma chướng đều nhân chỗ trống mà nhập vào,phương pháp hóa giải hậu thiên là chánh nhân luân chi thường thì mới mong giải trừ được sự xâm nhiễm của nó.Nếu không thì tịnh tọa đúng cách cũng có hiệu quả.

Dũng bút: Bồ tát nói là kết hôn có thể giải trừ ma chướng phiền nhiễu,xin nói rõ hơn ạ.

Bồ tát: dâm nghiệp hình thành là do sự bất chánh trong sắc dục,khi nó đến đòi nợ thì cũng bằng hình thức như vậy,do đó kết hôn có thể làm điều hòa âm dương mà xua đuổi nó.Còn tịnh tọa thì lấy tiểu chu thiên của thân người khế hợp đại chu thiên của trời đất,từ đó sản sinh sức mạnh đủ để phá trừ ma chướng,lý lẽ cũng tương đồng,như phạm dâm nghiệp thì in tặng sách giới dâm,đem công đức khuyên người giới dâm bù đắp tội lỗi phạm dâm của mình,thì có thể trừ tà ma,đạo lý như vậy.

Dũng bút: ừ,quả báo của dâm nghiệp cũng dễ hoá giải,không đến nỗi quá kịch liệt.

Bồ tát: vậy phải xem con đứng ở góc độ nào luận bàn,về phương diện chịu khổ thì không thực sự đau thương nhưng áp lực tinh thần cũng đủ làm con suy sụp nặng.Dễ hóa giải cũng có thể như vậy vì nó dễ nhận ra,chỉ cần tùy bệnh cho thuốc là xong,nhưng chỉ sợ ma chướng mạnh quá thì không cứu được,ngay cả trợ lực cũng không tác dụng.

PHẦN 11: ÁC LINH TÁC QUÁI KHÔNG NGỪNG NGHỈ,DỊ TƯỚNG NGUYÊN DO THẬT ĐÁNG SỢ.
Quan âm bồ tát giáng
thánh thị: ta thường nghe người đời than oán,đời thật khổ,khổ không nói nên lời,tiên phật tuy rằng từ bi,sao không giải quyết được hết khổ đau của thế gian ? tiếng kêu thê lương,ta không nén nổi trắc ẩn.

Dũng bút: bồ tát xin đừng quá bi lụy,thế gian khổ nhưng vẫn còn tịnh thổ,người đời khổ do không biết tu thôi.Bồ tát đại từ đại bi như vậy,nếu người đời chịu tu,nhất định cảm động bồ tát cứu khổ.

Bồ tát: lời nói không sai,thế gian khổ tuyệt đại đa số do nhân quả nghiệp lực dày vò,đó là luật trời quy định,người đời cầu tiên phật giải khổ,điều tiên quyết là bản thân phải đủ thiện đức cảm động trời đất,giải oan nghiệp,tiên phật trợ giúp chỉ làm giảm đi đau khổ đến mức thấp nhất.Người đời đa phần không hiểu được "giải trừ nhất thiết khổ là do bản thân quyết định".

Dũng bút: Ừ,đệ tử cũng cảm thấy như vậy,làm việc đạo cũng thế,muốn có người trợ đạo thì bản thân phải thật lòng hành đạo,nếu không ai mà giúp mình.Nhưng người trong tam giới,thoát không được ngũ hành,bao nhiêu việc phàm đeo bám phiền nhiễu.

Bồ tát: than thở vô ích,viết sách quan trọng hơn.Sách này lưu thông rộng rãi,con phải tốn chút tâm sức lưu truyền càng rộng,càng nhiều người đọc,thì "nhân quả luận" càng ăn sâu vào lòng người,sẽ không những giải trừ đau khổ trong nhân gian mà càng làm người sợ nghiệp lực mà không dám tạo nghiệp,thế đạo càng hướng thiện dẫn đến tường hòa,sẽ không phải là nói xuông nữa mà ngày đó sẽ thành hiện thực.

Dũng bút: bồ tát yên tâm,đệ tử đã lên kế hoạch lưu thông sách này,và cũng trình tấu ân chủ quyết định,sẽ không phụ lòng của bồ tát.Đúng rồi,ngày trước đệ tử có tiếp một cú điện thoại của một vị độc giả,đại ý là cô ta thường nhìn thấy một vài hiện tượng kỳ lạ,ví dụ như những con vật ghê tởm,cảnh tượng kinh hồn,thậm chí trong gấc mơ thấy người ngồi ở đầu giường.Bản thân cô ta đã làm theo sự chỉ dẫn của tiên phật nhiều nơi,có âm hồn đeo bám,vậy thì đây là loại nhân quả gì ạ ? tín nữ là vị thành tâm tu trì và trợ đạo,sao lại bị như vậy ?

Bồ tát: không sai,đại thể mà nói thì đây là việc đòi nợ của oan gia trái chủ.Đây là hiện tượng trả nợ trực tiếp,không chỉ có sức mạnh vô hình nhiễu loạn mà thôi.

Dũng bút: quả báo chia ra hữu hình và vô hình,nhưng âm linh thuộc vô hình,vậy phải giải thích làm sao ?

Bồ tát: cái này có thể chia ra vô hình trong vô hình,và hữu hình.Ví dụ như: bệnh đau vô cớ thuộc vô hình,biết được chứng trạng thuộc hữu hình.Oan gia trái chủ trực tiếp đòi nợ thuộc hữu hình trong hữu hình,xâm nhập thân thể quậy phá thuộc vô hình.

Dũng bút: lạ thật,oan linh thuộc hữu hình,chứng trạng thân thể thuộc vô hình,đúng là tương phản.Vậy nếu oan gia trái chủ trực tiếp đòi nợ thì tình hình như thế nào ?

Bồ tát: oan gia trái chủ có thể trực tiếp đòi nợ đều phải qua sự phê duyệt của địa phủ,do đó,bọn chúng mới có thể đến dương gian nhiễu loạn người dương thế.Chúng có thể làm mạnh mẽ như vậy vì chúng có lý đúng,có nghĩa là người gặp phải trường hợp này đều là xứng đáng.

Dũng bút: vậy thì phiền phức to rồi,oan linh đeo bám,không tính ẩn hiện hù dọa,những hiện tượng dị thường cũng đủ nhức đầu rồi,chẳng lẽ không có điềm báo trước để người ta chuẩn bị hay sao ?

Bồ tát: khó lắm,vì oan gia trái chủ được địa phủ chấp nhận nên trực tiếp đòi nợ,điềm báo của nó rất khó phân biện.Nhưng mà,có lợi cũng có hại,chúng nó có thể báo oán,người dương gian cũng có thể cầu nguyện tiên phật tu công đức hồi hướng,từ địa phủ sẽ xóa nghiệp nhân,nghiệp nhân một khi bị xóa,minh chỉ thu hồi thì chúng không thể đòi nợ nữa.

Dũng bút: Ừm,tình hình như vậy,đệ tử cũng xử lý qua khá nhiều.Nhưng đệ tử xin thỉnh giáo,oan gia trái chủ trực tiếp đòi nợ có thể gây ra tinh thần sai loạn hay chết thảm không ?
Bồ tát: cũng có thể xảy ra.

Dũng bút: vậy à,cũng không có điềm báo,như vậy không phải quá nguy hiểm hay sao ? địa phủ chuẩn y như vậy có quá đáng không ?

Bồ tát: không phải đâu,địa phủ chỉ làm theo luật trời đã định,không có sai lầm.Vấn đề là bản thân oan linh tích oán quá nặng,một khi có cơ hội liền ra tay hết sức nhưng sau khi về âm phủ sẽ bị phạt lại.

Dũng bút: vậy nếu như bình thường tu tạo công đức hồi hướng oan gia trái chủ thì có thể giảm bớt phần nào khi bị đòi nợ sao.

Bồ tát: đương nhiên,nhưng phải xem nhân hình thành thuộc loại nào.Người nào thường tạo công đức hồi hướng,địa phủ sẽ hủy quyền lãnh chỉ đòi nợ hoặc lúc đòi nợ có hiện tượng đặc định,ngoài ra không ảnh hưởng.

Dũng bút: như vậy là sao ?

Bồ tát: tại vì hiện tượng đặc định đòi nợ,địa phủ thả oan linh đòi nợ nhưng dùng tiên pháp chấn linh,làm cho nó không ra tay quá đáng,nguy hại người thọ báo.

PHẦN 12: THỂ CHẤT DỊ THƯỜNG GÂN CỐT ĐAU,SỚM TU GIẢI NGHIỆP MIỄN KÉO DÀI.
Quan âm bồ tát giáng

thánh thị: tục ngữ có câu "bình an là phúc,khoẻ mạnh là tài phú".nếu như thân thể thường có bệnh vô cớ,thì tinh thần không thể yên ổn tập trung,cũng không có cách nào yên tâm phát triển sự nghiệp,cũng bắt đầu phải chịu khổ đau.

Dũng bút: trong ngày thường cũng có những trường hợp như vậy,đệ tử gặp khá nhiều trường hợp cần xử lý như thế,theo ân sư thánh thị: có người vận vào sao xấu nên bệnh không dứt;có người do oan nghiệp đeo bám,còn ý của bồ tát như thế nào ?

Bồ tát: đúng vậy,nếu như là sao xấu nhập vận thì dễ rồi,vận qua thì không quan ngại gì.

Dũng bút: ý của bồ tát nói là,nếu như không phải sao xấu nhập vận thì rắc rối lớn rồi.
Bồ tát: cũng chưa chắc,bình thường có đau bệnh vô cớ,trừ việc liên quan đến "vận",đó còn là "nhân quả nghiệp lực đeo bám" thì rất rắc rối,nhưng không đến nỗi như con nói.

Dũng bút: vậy thì tình hình sẽ như thế nào ?

Bồ tát: nhân quả nghiệp lực đeo bám làm cho cơ thể lúc nào cũng bệnh đau,có thể chia làm 2 phương diện mà nói.một là gân cốt đau nhức không ngừng,đau đớn không cố định thời gian;và cố định đau đớn;mà điểm giống nhau là rất khó chữa trị.Y sĩ thường nói: "bệnh gân cốt rất khó trị",tuy rằng đây liên quan đến cấu tạo cơ thể mà nói không sai,nhưng khi thêm nghiệp lực đeo bám thì khó thật khó vậy.Hai là phương diện thể chất dị thường,cũng có nghĩa là rất suy nhược,ngẫu nhiên lơ là thì bị bệnh.Hoặc là có người nói dinh dưỡng không đủ,thiếu vận động hay không tập hít thở dẫn đến.Như vậy cũng không sai nhưng trên cơ bản vẫn là do nhân quả nghiệp lực tạo thành.

Dũng bút: vậy thì nhân quả hình thành như thế nào ?

Bồ tát: nhân hình thành là do nghiệp "đâm sau lưng người",cũng có số ít hiếu thắng tổn hại người,oan nghiệp đeo bám nên mới hình thành quả báo kiếp này.

Dũng bút: vậy điềm báo của nó là gì ?

Bồ tát: quả báo trên phương diện thân thể,điềm báo rất khó nhận rõ.Tại vì từ lúc bắt đầu đến lúc cuối cùng,tình hình cũng như vậy,nhiều nhất là tình trạng xấu đi,day dứt không ngừng.

Dũng bút: ý của bồ tát là không thể biết được ?

Bồ tát: không,ngược lại là rất dễ biết.Khi con người gặp tình hình bệnh đau như vậy,vài lần đi bác sĩ trị bệnh không hết hoặc là trở đi trở lại không định thì biết chắc là nó rồi.

Dũng bút: vậy thì loại bệnh nhân quả này rất dễ xử lý rồi,một khi gặp phải thì lập tức có thể tiêu giải oan nghiệp,vậy vạn sự OK rồi.

Bồ tát: đại để là như vậy.Nhưng mà,chỉ sợ kẻ nghiệp nặng thì không dễ hoá giải đâu.

Dũng bút: không sao,chỉ cần biết được nguyên nhân,cầu tiên phật làm chủ hóa giải tất không có vấn đề gì.
Bồ tát: nói cũng đúng,chỉ cần có tâm sám hối giải nghiệp thì tiên phật sẽ từ bi làm chủ cho.

PHẦN 13: ẢNH ẢO DO DỰ TÂM BẤT ĐỊNH,TUY PHÒNG MA CHƯỚNG LOẠN LINH THẦN.
Quan âm bồ tát giáng

thánh thị: nhân tâm không thiện,càng ngày càng ác,cho chí nhân quả luân hồi,không ngừng không dứt.Do đó,đủ thứ bệnh hoạn tạp chứng xuất hiện đầy khắp nơi,không phải lòng trời bất nhân vậy.

Dũng bút phúc họa vô môn,duy nhân tự chiêu,bao nhiêu người có thể hiểu rõ đạo lý trong đó ? ô,đúng rồi,nói đến bệnh hoạn khó chữa,nhiều người đều nói: thường thấy một số ảo ảnh,những dị tướng đó làm người nghi quỷ nghi thần.Vậy đó là tình hình như thế nào,xin bồ tát khai thị.
Bồ tát: có thể chia ra 2 phương diện mà nói: một là tâm ma,hai là điềm báo trước lúc thọ oan nghiệp.

Dũng bút: Ừm,tâm ma,tiên phật thường giáo huấn,đừng nên để tâm ma tung hoành;tâm người có dục vọng nên khó tránh chướng ngại,phải bắt tay từ việc khắc phục dục vọng.Mà nếu là oan nghiệp đeo bám thì xin bồ tát tốn công khai thị hiện tượng ra sao ?

Bồ tát: tâm ma tự sinh,nên tự mình giải quyết,gỡ nút cần có người thắt nút,không bàn cãi thêm.Nếu như không phải tâm ma thì là dấu hiệu oan nghiệp nhân mạng đòi nợ.

Dũng bút: vậy nợ nhân mạng này là nhân tiền kiếp hay nhân nhiều kiếp ?

Bồ tát: oan nghiệp nợ nhân mạng đeo bám không dứt,không những là nhân kiếp trước mà có thể là trăm kiếp hoặc ngàn kiếp trước.Tại vì,nhân linh oán khí rất nặng,một luồng khí mạnh bạo rất khó tiêu tan.Do đó,người đời phải cố tránh,không nên phạm vào,nếu không quả báo rất đáng sợ.

Dũng bút: làm sao tiêu trừ luồng khí mạnh bạo đó ?

Bồ tát: chỉ có đại âm đức mới được ơn trên mệnh địa phủ hủy lệnh đòi mạng,nếu không thì phải hoá giải với oan gia,vì nợ nhân mạng do địa phủ phê chuẩn đòi nợ.

Dũng bút: nếu nghiệp báo nợ nhân mạng nặng như vậy,xin bồ tát khai thị chứng trạng tường tận.
Bồ tát: người bình thường đang giữa ban ngày mà thấy âm ảnh như thật như giả,vô cớ trong lòng sợ hãi hay trong cảnh mộng có oan nghiệt đeo bám thì nên đề phòng.

Dũng bút: nếu không cảnh giác thì sẽ như thế nào ?

Bồ tát: vậy thì khó nói lắm,lâu ngày sẽ trở thành thần kinh suy nhược,cũng có thể vì thế mà mất mạng,càng vì thế mà sự nghiệp gia đình xuống dốc.

Dũng bút: vậy cũng như tai nạn trong ngày thường rồi,những người háo đấu tranh giành đọc đến đây sẽ biết ngừng lại vậy,tránh tranh đua làm cuộc đời được bình an hơn.

PHẦN 14: THƯỜNG HÀNH BẤT NGHĨA CHIÊU NGHIỆP NHÂN,VÔ VỌNG CHI TAI TỰ SUY XÉT.

Quan âm bồ tát giáng

Thánh thị: sách này đã đến phần cuối,tất cả đã phân tích nói rõ,vậy giữ phần này cho Dũng bút phát huy.

Dũng bút: không dám,đệ tử làm sao có khả năng hoằng luận như bồ tát được,nhưng mà,đệ tử nhân cơ hội này thỉnh giáo tại sao có vô vọng chi tai ?

Bồ tát: hỏi hay lắm,vô vọng chi tai là những tai họa theo lý thường không thể xảy ra,vô cớ bị liên can.Từ đó thấy được nguyên nhân hình thành của nó do bất nghĩa tạo thành.

Dũng bút: ví như trộm cắp,cướp đoạt,lừa đảo.
Bồ tát: đúng vậy,đây chỉ là tài vật,nếu như liên quan đến mạng người thì không đơn giản như vậy.

Dũng bút: không đáng mà bị,làm cho không ngờ bị tổn hại,thân thể chịu đau khổ,cả vốn lẫn lời mà trả.
Bồ tát: nếu muốn giảm nhẹ vô vọng chi tai thì bình thường phải tích thiện đức,tu công trừ tội.

Dũng bút: tiên phật luôn khuyên tu công lập đức,không những có thể tích phước mà còn tiêu trừ nghiệp nhân vô vọng chi tai.Mà hy sinh tu công lập đức,lấy tài thí mà nói,trong vô hình thu lại,tuyệt không ít hơn bỏ ra đâu,sớm đã có chứng nghiệm.

Bồ tát: quyển sách này đã hoàn toàn kết thúc,dũng bút hiền sinh,ta chúc con Cung Hoành đạo mạch thuận lợi phát triển.

Dũng bút: cảm tạ bồ tát kim ngọc lương ngôn,cùng mong bồ tát lúc nào cũng phật quang phổ chiếu đệ tử.


Cung Hoành đường đường chủ Bạt

sách này"nhân quả bệnh tượng tích luận" được trước tác là do đại từ đại bi Quan thế âm bồ tát phụng chỉ thực hiện.Có nghĩa là viết sách thánh tường thuật luân hồi quả báo,hiện tượng nghiệp nhân.Đúng như lúc viết sách,bồ tát đã từng khai thị: có thể biết được hiện tượng và sự hình thành nhân quả thì sẽ trợ giúp cho cuộc sống bình an thuận lợi.Giống như thuốc thánh để cấp cứu vậy,nhà nào cũng cần,để phòng khi cần thiết;như vậy,nếu đọc kỹ sách này có thể giải trừ đau bệnh bất trắc trong vô hình một cách dễ dàng thì cần gì thuốc thánh nữa ?

sách đã viết thành,sẽ mau chóng ban hành lưu thông,có thể làm lợi đời tăng thọ,bổn đường sẽ trường kỳ in tặng.Mong chư thiện đức hỗ trợ phí in ấn để người người được đọc mà giảm bớt cái khổ do nhân quả nghiệp báo;càng nguyện người đem tặng khắp nơi thì công đức vô lượng.

Ý Sắc Cung Hoành đường đường chủ Vương Kỳ Mưu kính cẩn.

Cung tiếp trợ in công đức ngọc chỉ
khâm phụng Ngọc Hoàng Đại Thiên Tôn Huyền Linh Cao Thượng Đế chiếu viết:
Trẫm tại trên cao,trên chưởng 36 trời,dưới quản 72 đất,thống ngự vạn linh,không lúc nào không nhớ đến chúng sinh.Xét thấy Đài Cương Phong Nguyên Ý Sắc Cung Hoành đường,khâm lệnh ngọc chỉ,khai trước sách"nhân quả bệnh tượng tích luận",nghiệp dĩ công thành,ban phát cho đời,nghi thức nộp sách,đốt với văn trình "ghi lại trợ in công đức sớ văn".Lòng trẫm vui lớn,Ý Sắc Cung Hoành đường,khắc khổ thành lập đạo trường thay trời tuyên hoá,chưa đầy 10 tháng,xiển giáo tế thế,có thành tựu như vậy thật đáng quí.Vì để nhiều thiện nam tín nữ trợ đạo,trừ lúc viết sách,phật môn hai đại bồ tát đại nguyện cùng chư thiên thuộc ty giám sát,bộ phận liên quan toàn lực phối hợp,còn có sắc chỉ:

*phàm người có trợ in sách này,cầu gì được nấy,nhẹ thì tức khắc giải quyết,nặng thì trong vòng 3 tháng sẽ hoàn tất.khi sách ban đời,phàm khuyến hóa được người thì công đức đều tính cho người trợ in.

*phàm người không cầu gì thì chuẩn 1 quyển ghi 3 công.In tặng 1000 quyển đến 3000 quyển ban 1 phúc,3000 quyển đến 5000 quyển ban 2 phúc,trên 5000 quyển ban 3 phúc chuẩn siêu tổ tiên 1 vị chứng đạo công quả.

*phàm có bôn ba lưu thông sách hoặc dẫn dắt người tin thọ nhân quả luân hồi để họ hướng về nẻo thiện thì tính công gấp đôi,ban tặng phước báo tùy nguyện cầu.

Lòng trời chí nhân chí chánh cũng muốn hướng người về nẻo thiện,nay ban điều lệ khen thưởng cũng mong chư hiền sinh Ý sắc cung hoành đường cố gắng hơn nữa để đảm trách sứ mệnh thay trời nói đạo,không được sơ sót,khấu đầu tạ ân.

thiên vận năm Mậu thìn tháng 11.

Cung tiếp "nhân quả bệnh tượng ấn chứng" ngọc chỉ.
bổn đường chủ tịch quan ân sư đăng đài.

thánh thị: đêm nay cung tiếp ngọc chỉ,mệnh bổn đường phúc thần ngoài 10 dặm tiếp giá,mệnh bổn đường thành hoàng ngoài 5 dặm tiếp giá,thần nhân còn lại xếp hàng tiếp giá.

khâm sai đại thần Thái bạch tiên ông giáng.

thơ rằng: theo chỉ lâm đường hội chúng sinh,viết sách ngọc chỉ hạ thiên kinh,kỳ vọng đạo vụ hoằng dương thạnh,phổ độ quần chúng hướng thiện hành.

thánh thị: tuyên đọc ngọc chỉ,thần nhân phủ phục.
khâm phụng Ngọc Hoàng Đại Thiên tôn Huyền Linh Cao Thượng Đế chiếu viết:
trẫm ở trên cao,thống ngự vạn linh,ở cao mà luôn nhìn xuống,không lúc nào quên chúng sinh.Ý sắc cung hoành đường,cung thừa vô cực ý mệnh thiết đường,mở cửa đại khai phổ độ;đạo trường thiết lập chỉ trong vài năm,công tích thật rực rỡ.Nay có Nam Hải Quan Âm bồ tát phụng chỉ viết sách"nhân quả bệnh tượng tích luận" ban hành cho đời,xiển luận nhân quả,khuyên người tin sợ,đã có công hiệu;càng vì thế hướng người về nẻo thiện,lòng trẫm cảm thấy an ủi,nay trong đường đã ban phát phần trên,tiếp theo là phần dưới,đề tài là "nhân quả bệnh tượng ấn chứng',trên dưới hai phần cùng hợp lại ban cho người đời tạo thành sự phân tích nhân quả tận thiện tận mỹ.Vừa lập luận vừa ấn chứng càng làm cho sự khuyến hóa gia tăng đột phá.Mệnh Nam Hải Quan Thế Âm bồ tát làm tiên phật chủ trước,Dũng bút làm chánh loan chủ trước;từ năm Ất tỵ tháng 2 ngày 26,mỗi loan kỳ vào thứ 3,bút gỗ phi loan viết sách,cho thời hạn 3 tháng hoàn tất.tất cả thần nhân tận lực hỗ trợ,đừng phụ hy vọng của trẫm,không được sơ sót,khấu đầu tạ ơn.
thiên vận năm ất tỵ tháng 2 ngày 26.

cung tiếp vô cực ý chỉ.
bổn đường chủ tịch quan ân sư đăng đài.

thánh thị: cung tiếp Hoàng Mẫu ý giá thân lâm,mệnh bổn đường phó chủ tịch ngoài 5 dặm tiếp giá,mệnh bổn đường thành hoàng ngoài 10 dặm tiếp giá,thần nhân còn lại truyền hương xếp hàng hầu giá.
Giá tiền Đổng tiên cô giáng

thánh thị: thị giá lâm đường,chư hiền sinh thận trọng không được thất lễ.tiếp giá,thần nhân phủ phục.

Vô Cực Lão mẫu giáng

ý thị: chư hiền khanh và chư nhi nữ miễn lễ.

thơ rằng: đồng tâm sách lực đạo hoằng dương,thánh giáo huy loan khởi nghi phương,danh dự quí đường truyền rộng khắp,sóng ân đức nghiệp vĩnh lưu trường.

Ý chỉ viết: mẹ tại vô cực,ngày ngày ngóng trông chín sáu nguyên linh,long hoa hội sớm tụ chung đường,đáng tiếc cõi phàm mê chướng,tiêu hồn mục cốt,nhân tâm bất thiện,tội ác đầy khắp.tuy được thánh môn nơi nơi xiển giáo,thay trời tuyên hóa;thừa ân viết sách nói rõ để cứu độ linh tử thiện huệ thức tỉnh.Nhưng hiểu cái khổ của người đời,muốn khuyên người hướng thiện,trước phải giải trừ căn nguyên khổ đau để được hiệu quả.Nay có Phong Nguyên ý sắc cung hoành đường lại lãnh thiên mạng,khai bút "nhân quả bệnh tượng tích luận",phần sau "nhân quả bệnh tướng ấn chứng",hai sách hợp lại,có thể nói tất cả bí mật của nhân quả đều nằm trong sách làm cho người đời giác ngộ nhân quả,từ đó mở được gông xiềng trói buộc;cũng làm người đời sợ hãi nghiệp nhân,quả báo đeo bám khổ sở mà thận trọng hướng thiện,trợ giúp tịnh hóa nhân gian thành tịnh độ.Rất mong việc viết sách,trợ in,lưu thông,cần tận lực.Mẹ rất vui theo dõi,ý chỉ như thế,khấu đầu tạ ân.
thiên vận năm ất tỵ tháng 3 ngày 2.

Tế công sư tôn giáng tựa
ta vì sách "nhân quả bệnh tượng ấn chứng" viết lời tựa.
trước có "nhân quả bệnh tượng tích luận" mổ xẻ hiện tượng hình thành của nghiệp quả,đại khái là lý luận;nay lại viết "nhân quả bệnh tượng ấn chứng",tức là nêu rõ nhân hình thành,quá trình,hiện tượng quả báo của nhân quả.Lý luận thêm ấn chứng,là nguyên tắc thêm thực tiễn,cụ thể trình bày nhân quả,làm người đời một nhìn thấy rõ chân nghĩa của nhân quả,đây chính là dụng ý thật sự của việc viết quyển sách này;làm người đời dễ dàng chấp nhận,vui vẻ chấp nhận,càng không thể không chấp nhận có nhân quả quan hệ tồn tại.Vì thế,người đời khi đọc 2 quyển sách này,đừng xem như tiểu thuyết,truyện vui là được,mà cần tỉ mỉ nghiền ngẫm,dụng tâm thể ngộ để có được tâm đắc,có thể giúp người hiểu được sự đeo bám của nghiệp quả.Ta chỉ có vài lời khích lệ làm tựa.

Tế phật giáng Ý Sắc Cung Hoành đường.
thiên vận năm Ất tỵ tháng 3 ngày 6.

PHẦN 1: ĐỊA PHỦ NHÂN QUẢ LỆ CHỨNG.
Quan âm bồ tát giáng.

thánh thị: rất vui lại giáng ý sắc cung hoành đường,nhớ lúc viết quyển "nhân quả bệnh tượng tích luận",ta và Dũng bút dùng "kim chỉ diệu pháp" viết sách.Nay lại lãnh chỉ tiếp tục viết "nhân quả bệnh tượng ấn chứng",có được loan bút viết sách tức sẽ làm loan vụ hưng thạnh,càng có thể cùng chư sinh vì thiên mạng nổ lực.

Dũng bút: đệ tử cung nghinh bồ tát phật giá.Sau khi sách "nhân quả bệnh tượng tích luận" hoàn thành,không lúc nào con quên bảo tướng của bồ tát,nay lại được cùng bồ tát viết sách thì đúng là phước đức ba đời.

Bồ tát: con không cần khách sáo.Cung Hoành đạo mạch chỉ trong một năm,nhờ con thúc đẩy lo liệu mà thành tựu,tuy rằng lúc trước con có chấp trước danh tiếng,nhưng trước mắt có thể thấy được công sức hy sinh vì đạo mạch của con,ta cảm thấy vui lòng mà giúp con một tay.

Dũng bút: đa tạ bồ tát khen thưởng,không dám ạ.Xin thỉnh giáo bồ tát,phần sách tiếp theo viết như thế nào,xin bồ tát khai thị.

Bồ tát: được,trên nguyên tắc viết tiếp bệnh tượng,theo cách hỏi và trả lời.Nhưng lại thêm việc phỏng vấn chứng bệnh tượng thực tế,như thế,phần trên dưới có lý luận và án lệ quán xuyến.

Dũng bút: vậy bồ tát phải dẫn đệ tử linh du phỏng vấn rồi ? được quan âm bồ tát thêm lần nữa dẫn dắt viết sách,đệ tử là người đầu tiên,đúng là thật vinh hạnh.

Bồ tát: hôm nay ta dẫn con xuống địa phủ ấn chứng một án lệ,con hãy lên đài sen của ta,đi thôi.

Dũng bút: đệ tử tuân mệnh.

Bồ tát: hôm nay vào minh phủ,đệ nhất điện con đã biết rồi,phải nghiêm chỉnh viết sách.

Dũng bút: địa phủ đã đi qua rồi,có thể nói là đã quá quen thuộc,bồ tát không dặn dò,đệ tử cũng biết được nặng nhẹ,không làm bừa ở địa phủ đâu.

Bồ tát: rất tốt...đã đến đệ nhất điện,Tần Quảng Vương đã đến,con mau chóng lên trên thi lễ.
Dũng bút: đệ tử tham kiến minh vương.

Tần Quảng Vương: không cần đa lễ.Ta và con cũng đã quen lâu,sao lại đa lễ như vậy.Bổn điện may mắn cung nghinh phật giá rồi.

Bồ tát: minh vương khách sáo rồi.

Dũng bút: sao hai vị tiên phật khách sáo như vậy,đệ tử đây là kẻ phàm tục,sao lại không dám giữ nguyên tắc.

Bồ tát: vậy thì tốt,hai người có thể đàm luận.Dù gì,nhất điện minh vương cũng đã biết nhiệm vụ của con,ta đi thuyết pháp cho tội hồn u minh đây.

Dũng bút: vâng được,nhưng bồ tát đừng quên trở lại dẫn con về đường nha.(mắt nhìn bồ tát nhẹ nhàng bay đi)Đại vương à,đêm nay trước tác"nhân quả bệnh tượng ấn chứng",đến đây làm gì vậy ?

Minh vương: ý của bồ tát là muốn con tra xem một án lệ đêm nay,càng để địa phủ rõ ràng ấn chứng hồ sơ người chủ đương sự thọ khổ ra sao làm minh chứng.

Dũng bút: thì ra là vậy,xin làm phiền minh vương rồi.

Minh vương: hồ sơ ở đây,con xem thử.

Dũng bút: đệ tử có thể đọc lên không ?

Minh vương: đương nhiên là được.

Dũng bút: danh tánh Phí Chánh Dương,sinh vào năm dân quốc 73 tháng 5 ngày 1.Tịch quán người Đài Loan tỉnh Chương Hoá,phụ chú: 4 tuổi bị phạm sát chưa giải được,mà bị chứng đần độn,theo hồ sơ kiếp trước(chính văn thập điện và lục điện phán quyết) xét Lý Ân Hằng lúc sống không biết hành thiện,tuy gia đình khá giả nhưng thường lợi dụng người,kết hôn với Lữ Quốc Mộng,nhưng vì Lữ nữ tham mộ hư vinh phung phí xài tiền nên trong một lần tranh chấp đã bị xiết cổ đến chết,hình thành nghiệp nhân này,thập điện chuyển luân phụ chú tình tiết cụ thể,Ô,vậy tư liệu của thập điện và lục điện đâu ?

Minh vương: không sao,không cần xem đâu,bổn điện đã có tư liệu chứng minh.Hiện tại con nhìn sang phải phía trước mặt 30 độ có một tấm gương,xem kỹ đừng sót.

Dũng bút: được rồi,(soi gương thì có gì hay đâu ?)trong sát na thấy mặt gương lõm vào,hiện lên hình ảnh mờ mờ.Tiếp theo là một mảng ruộng xanh,một đứa trẻ sáu bảy tuổi ngồi bên bờ ruộng lấy đất bùn bôi lên người.Thời gian gần như quay ngược lại,đứa trẻ này hình như bị thiểu năng,phàm việc ăn uống ngủ tắm đều phải có người chăm sóc,lại quay về đêm trước,đứa trẻ đi đến bờ rãnh,hình như nó thấy vật gì muốn vớt lấy rồi nhảy vào rãnh nước,sau khi về nhà lúc lạnh lúc nóng,chỉ thấy một đôi vợ chồng trẻ bận rộn đưa đi trị bệnh,day dưa lâu ngày,không thấy khởi sắc,tay chân đều bận rộn,một ngày rồi một ngày,cuối cùng,đứa trẻ không uống thuốc chích ngừa nữa,khỏe mạnh không được hai ngày rồi tự đào đất bắt giun,kiến bỏ vào trong miệng,càng vô cớ miệng cười,cuối cùng trở nên đần độn nghiêm trọng.

Minh vương: đứa trẻ cũng chưa thật sự nghiêm trọng,vào lúc 10 tuổi nó sẽ hết bệnh,vấn đề là bọn họ có biết giải nghiệp không.

Dũng bút: vậy thật không đơn giản,đệ tử đi giúp họ một tay.

Minh vương: thôi đi,không phải lúc khoe tài đâu,muốn giải quyết nghiệp chướng cần phải có thời cơ thích hợp của hai bên.Nhưng mà,nó có công tham gia vào việc viết sách nên cơ duyên sẽ đến sớm.

Dũng bút: vậy cũng tốt rồi.Nhưng mà đại vương chỉ giáo đệ tử một chút,nếu như vậy thì những người đến bổn đường cầu Quan ân chủ giải nghiệp đều là đúng thời cơ à ?

Minh vương: đương nhiên,ý nghĩa của quí nhân là như vậy.Quí nhân của mỗi người là ai,lúc nào xuất hiện,đều đã được qui định sẵn rồi.

Bồ tát: (không biết lúc nào đã về phòng khách)Dũng bút à,có nhân tất có quả,nhưng nhân quả chia ra nhân duyên và túc quả.Nhân duyên là có nhân như vậy nên có duyên như vậy,hình thành sự gặp gỡ.Túc quả là sợi dây vô hình gắn liền từ vô lượng kiếp đến nay,nó làm sợi dây kết nối nhân duyên lại với nhau hình thành bể khổ đại luân hồi vậy.

Dũng bút: cảm tạ bồ tát khai thị,đệ tử thọ dụng không ít.Xin cho đệ tử thỉnh giáo án lệ này muốn ấn chứng điều gì vậy ?

Bồ tát: Phí tiểu tín sĩ té vào nước là lúc đầu.sau quá trình nằm bệnh,uống thuốc,không biết giải cầu là do nghiệp vô tình xiết cổ người đến chết,kiếp này bị nạn nước đeo bám đòi nợ.

Dũng bút: đệ tử hiểu rồi.

Bồ tát: được rồi,đêm nay viết sách kết thúc,làm phiền minh vương.

Minh vương: không dám,bổn điện kính tiễn hai vị.

Dũng bút: đệ tử cáo lui.

PHẦN 2: NHÂN QUẢ DÂM NGHIỆP LỆ CHỨNG.
Nam hải Quan âm bồ tát giáng.

thánh thị: Dũng bút hiền sinh,có ý kiến gì với quyển sách này không ?

Dũng bút: đệ tử xin thưa,kỳ trước viết sách có phần mệt,xin hỏi bồ tát có thể thay đổi được không ?

Bồ tát: vậy con có cao kiến gì ?

Dũng bút: có thể cho con đặt câu hỏi và bồ tát khai thị được không ?

Bồ tát: vậy cũng được.

Dũng bút: vậy đệ tử xin được tự nhiên.Xin hỏi bồ tát: sự tạo thành của dâm nghiệp,trên quả báo chiếm một mấu chốt rất quan trọng.Gần đây,đệ tử có tiếp nhận xử lý một vài trường hợp liên quan đến sự đeo bám của dâm nghiệp,xin bồ tát khai thị,một khi tạo thành dâm nghiệp,kiếp này trả báo,tình hình hóa giải sẽ như thế nào ?

Bồ tát: vấn đề này đã được đề cập trong "nhân quả bệnh tượng tích luận",ta sẽ giải thích thêm,sự hình thành dâm nghiệp là do hành vi sắc dục bất chánh,tình hình quả báo thường xuất hiện trên một loại hành vi đeo bám giống nhau,mà hiện tượng trực tiếp nhất là thân người càng ngày càng suy nhược,khi dâm nghiệp bị tiêu trừ thì sẽ không trị mà hết bệnh.

Dũng bút: vậy sao,kiếp trước phạm dâm nghiệp,có người sẽ bị quan hệ với quỷ ma,đêm mơ thấy tướng lạ,ma nữ đeo bám,ngày càng suy nhược,là nguyên nhân gì ?

Bồ tát: đó là do sức mạnh nghiệp chướng dẫn đến,nói cách khác,gặp trường hợp này thì là bị dâm nghiệp đeo bám.

Dũng bút: xin hỏi bồ tát,một khi phạm dâm nghiệp,không cần biết là kiếp trước hay kiếp này tạo thì có cách nào giải trừ không ạ ?

Bồ tát: dâm nghiệp không hủy trinh tiết của người hay tổn nhân mạng thì dễ giải trừ.Chỉ cần thành tâm sám hối,từ đây thay đổi,dần dần tu trừ cũng hóa giải được.

Dũng bút: nếu như tổn nhân mạng và trinh tiết người thì sao ?

Bồ tát: vậy thì khó rồi,hủy trinh tiết người,chí ít cần công đức 3 kiếp giúp người giữ trinh tiết hoặc khuyên được 100 người giới dâm,mới bù trừ được.còn tổn nhân mạng thì cần hòa giải oan hồn trước,sau giữ giới dâm,giữ trinh tiết cho người mới bù đắp được.Mà nghiệp tạo kiếp này nặng hơn tạo kiếp trước.

Dũng bút: ý của bồ tát là có người biết mình tạo nghiệp trong kiếp này,muốn sám hối giải nghiệp thì cần phải bỏ công sức nhiều hơn.

Bồ tát: đương nhiên,vì tạo nghiệp kiếp này không nghiêm phạt thì không biết bù đắp,còn nghiệp tạo kiếp trước do đã chịu nhiều khổ mài nên đã tiêu một phần nghiệp,do đó mà nhẹ hơn.

Dũng bút: thì ra là vậy,đệ tử cảm tạ bồ tát khai thị.

Bồ tát: ta để hiện cảnh một án lệ,con hãy xem kỹ.

Dũng bút: đệ tử tuân mệnh.(trước mặt lập tức xuất hiện một tờ giấy,cũng như lần trước nhìn thấy văn kiện tại địa phủ.Trên ấy ghi danh tánh Liễu Hoằng Diễn,cư trú tại Đài Nam,26 tuổi,tình trạng trí nhớ ngày càng tệ,suốt ngày nghĩ bậy,hành vi si ái nặng.Nghiệp nhân: vào năm Đạo Quang thứ 3,trên đường vắng An Gia Tập tại Hồ Nam,cưỡng hiếp dân nữ Hồ thị,người nữ không thuận theo nên cắn lưỡi tự sát.Nhân tuổi vào năm Mậu thìn tháng 6 mượn bệnh trả nghiệp,Hồ thị lãnh chỉ hành bệnh 35 năm.Cảnh sắc lại thay đổi,trong một toà nhà cao tầng,có một gia đình đang sống,trông có vẻ rất giàu sang,có một thanh niên ngồi trên ghế sa pha vừa xem sách,vừa ăn đồ.Tự nhiên thấy sách rơi xuống,chỉ thấy sách đầy hình nam nữ hành lạc.Đến lúc đêm khuya,người nam thanh niên thay đồ đi ra ngoài,thì ra anh ta đi vào nơi thanh sắc,suốt đêm không về.Cảnh sắc lại thay đổi,có một quí phụ,trong tay cầm một bao tiền cùng một người phụ nữ gương mặt tiều tụy,đến một gian nhà hư nát,trong nhà có một người trung niên gương mặt ghê tợn,hai bên tranh cãi kịch liệt,sau cùng phải cam tâm đưa tiền,dẫn một đứa con gái nhỏ 15,16 tuổi về nhà.Người phụ nữ tiều tụy tỏ vẽ rất mang ơn rồi dẫn đứa gái nhỏ đi.Trời vừa sáng,người thanh niên trẻ về nhà rồi ngã người lên giường ngủ.Lại nhìn thấy một vị tiên phật đến gần ấn tay vào đầu rồi biến mất.Về sau,người thanh niên hết bệnh si ái,có thể đường đường chính chính làm người.Người quí phụ là mẹ người thanh niên đó,hai người giúp nhau mà sống,tuy có gia sản lớn nhưng đến nay mới hưởng được cuộc sống bình thường hạnh phúc).xin hỏi bồ tát,đây có ý nghĩa gì ?

Bồ tát: Liễu tín sĩ bị dâm nghiệp nghiệp chướng đeo bám,mà mẹ của hắn rất nhân từ,người chị em đến kể khổ rằng con gái bị người cha ép vào nhà chứa mà sẵn sàng bỏ tiền giúp chuộc về,dâm nghiệp vì thế được âm đức giải trừ.

Dũng bút: thì ra là vậy.Đúng rồi,xin hỏi bồ tát,người cha ép con gái vào nhà chứa sẽ bị quả báo như thế nào ? còn người con gái bị ép hại lại đã tạo nhân ác gì ?

Bồ tát: cũng như vở tuồng hàng ngày.Người cha tạo nghiệp này thì cũng sẽ bị quả báo như vậy,còn người con gái do đã từng tạo nghiệp như vậy nên mới bị quả báo kiếp này.

Dũng bút: nói vậy có nghĩa đứa con gái đã từng ép người xuống hầm lửa nên nay bị như vậy.Còn người cha tạo nghiệp này thì kiếp sau sẽ bị quả báo.Ồ,không đúng,sao lại ăn khớp quá vậy,sao họ lại thành cha con ?

Bồ tát: không phải ăn khớp,tại vì đứa con gái này đã được quy định phải bị như vậy nên đầu thai vào gia đình nghèo khổ và bất nhân,mới hình thành duyên cha con.

Dũng bút: thật là rắc rối quá,cảm tạ bồ tát chỉ giáo khai thị.

PHẦN 3: NHÂN QUẢ NÃO CHẾT LỆ ÁN.
Nam Hải Quan âm bồ tát giáng.

thánh thị: ta phụng chỉ viết tiếp sách nhân quả,nhận thấy thế đạo trước mắt thật sa đọa,lòng người ác độc,ác chướng xông thiên,khí bất thiện kết đọng tấn công làm thân người mang đủ thứ bệnh khó chữa.Bệnh nhân quả quá rõ ràng đầy khắp mọi nơi,vì thế mà phải viết sách nhân quả mà đối trị,để giúp đời bớt khổ,hướng dẫn người từ mê vào ngộ vậy.

Dũng bút:cung lãnh lời hay của bồ tát,đệ tử thọ dụng được nhiều,còn nhớ lúc trước xử lý thánh vụ,có rất ít bệnh không chữa được,đều nằm trong phạm vi y học xử lý được,nhưng sau khi đạo vụ Cung Hoành đường phát triển hay là nhờ sự linh hiển của Quan ân chủ mà mỗi lần tiếp nhận chữa trị đều là những trường hợp y học bó tay không,đúng là hiện tượng nhân quả đòi nợ.Nhớ là sau khi Quan ân chủ thọ phong đăng ngôi Ngọc Hoàng thứ 18 thì thiên luật thay đổi thành hiện tại báo,nhân vì đòi nợ quá mau nên mới dẫn tới hiện tượng này.

Bồ tát: bệnh nhân quả là do sức mạnh vô hình phiền nhiễu.Thân người là tiểu chu thiên,hoạt động của ngũ hành ngừng nghỉ có thứ tự,do đó thân người có bệnh đau không khoẻ.

Dũng bút: đệ tử thỉnh giáo bồ tát,trước mắt tồn tại vài người thực vật,có thể nhờ bồ tát khai thị nhân quả trước sau được không ?

Bồ tát: được,đại khái là:người thực vật thuộc loại não bị chết,não trong ngũ hành thuộc chủ thể trung ương Mậu Kỷ thổ,là ngũ hành trung thổ bị xâm tổn dẫn đến,mà nhân hình thành tiên thiên chính là do nghiệp lực.nói cách khác,khi đã tạo một nghiệp nhân nhất định,thì trong thời cơ thích hợp,nghiệp lực này sẽ sản sinh sức mạnh tổn thương tạo ra quả báo người thực vật.

Dũng bút: vậy à,đệ tử muốn hỏi nữa,là những người thực vật do bị tai nạn xe cộ tổn thương,sản sinh hiện tượng não chết,như thế làm sao ấn chứng lý luận của bồ tát ?

Bồ tát: con không hiểu những lời ta giải thích lúc nãy,ví dụ như: người Giáp kiếp trước làm kẻ chuyên ăn cắp đồ quí trong mồ mả,tạo nên tội nghiệp rất lớn,đến khi chết,sau khi xét công và tội,không luận trăm ngàn năm mới được làm người,thì cái tội này không mất,địa phủ thập điện chú ý đặc biệt khi cho đầu thai và chỉ định rõ nhân thọ báo.Khi người Giáp này mang thân người thì cái ác nhân vẫn đi theo hắn,đợi lúc thành thục,đương lúc vận số hắn đen đủi sẽ lập tức hành phạt,không luận là lúc nào,lúc ngủ,đi bộ hay đi xe v.v..không có nhất định.

Dũng bút: tức là ác nhân khi thành thục mà khi người thọ báo bị xui xẻo thì dù đang ngủ cũng bị não chết.

Bồ tát: đúng vậy,nhưng nghiệp đòi nợ đều có nghiệp dẫn.

Dũng bút: nghiệp dẫn là gì ?

Bồ tát: cũng như thuốc dẫn vậy để phụ giúp thuốc chính phát huy hết sức mạnh.Ví dụ như khi nó chín mùi,người thọ báo gặp vận xui,lại có thêm ngoại lực.ví dụ như khi lái xe uống rượu say,tranh cãi với người dẫn đến đánh nhau,hay là sơ xuất trị sai bệnh,v.v...,đều là nghiệp dẫn.

Dũng bút: đệ tử hiểu rồi.Đó là tìm thời cơ thích hợp nhất,với lại góc độ có lợi nhất tạo thành động tác giả cho loại bệnh tượng này.cũng có nghĩa,mượn một loại hành vi nào để hoàn thành quá trình đòi nợ.

Bồ tát: đúng vậy.

Dũng bút: vậy xin hỏi bồ tát tình hình này có thể hóa giải được chăng ?

Bồ tát: đại để là lúc chưa thọ báo thì dễ nhưng sau khi thọ báo rồi thì khó.

Dũng bút: cũng có nghĩa là,trong lúc bình thường,tội chướng này dễ hóa giải,bằng cách tu công đức,dần tu dần giải,nhưng về sau thì mong bồ tát khai thị rõ.

Bồ tát: cái gọi lúc chưa thọ báo là lúc vừa mới hôn mê nếu cầu giải trừ lập tức thì được,nhưng khi đã xác định là lúc não đã chết thì cơ hội giải trừ được rất thấp,nhân vì nghiệp lực đã hoàn tất việc đòi nợ,về minh phủ nộp chỉ,rất khó giải quyết triệt để được.

Dũng bút: cái yếu tố quan trọng là ở nghiệp lực.Nhưng nghiệp nhân là gì ? xin bồ tát khai thị.

Bồ tát: nghiệp nhân đa số thuộc về tổn đất như: giặc bán nước,giặc trộm mả hoặc liên quan đến những việc như vậy thì phải thận trọng với ác báo này.

Dũng bút: cảm tạ bồ tát khai thị,đệ tử thọ giáo.

Bồ tát: như vậy đêm nay viết sách đến đây ngừng bút.ta về đây.

PHẦN 4: NHÂN QUẢ PHU THÊ LỆ CHỨNG.
Nam Hải Quan Âm bồ tát giáng.

thánh thị: tiếp theo "nhân quả bệnh tượng ấn chứng".hôm nay ta lược thuật hiện tượng nhân quả phu thê,có thể nói không ân không oán không thành vợ chồng cha con,mà điều quan trọng là nhân của ân oán tạo thành quả khi ở với nhau.

Dũng bút: vậy xin hỏi bồ tát,ân thành duyên là sao ? mà oán thành duyên là sao ?
Bồ tát: vợ chồng ân thành duyên thì sẽ dễ dàng hiểu nhau,nhường nhịn nhau,lại càng có thể hy sinh vì nhau.Mà oán thành duyên thì đa số có thể đối đầu với nhau,không bao giờ bình yên nổi,cứ đem phiền phức cho nhau,có hành động thụt gậy bánh xe vậy.

Dũng bút: ví dụ như một đôi vợ chồng yêu nhau mà kết hợp,trong vài năm rất ân ái,nhưng sau đó thì không chịu nổi nhau nữa,thậm chí cách ly,vậy nhân quả của họ thuộc ân hay oán ?

Bồ tát: đây có thể chia ra "ân thành duyên" và "oán thành duyên" mà nói.Thứ nhất,ân thành duyên,là họ rất tâm đầu ý hợp nhưng đáng tiếc là thiện duyên không nhiều.Nếu có oán duyên,thì quá trình cách ly cũng rất ác liệt,thậm chí còn như kẻ thù để kết thúc oán duyên.

Dũng bút: như vậy mà nói,không có giải thích cụ thể,ân oán đều có nhân tố khả năng,vậy thì mơ hồ quá.

Bồ tát: không phải.thiện nhân duyên sẽ có hiện tượng,như trên đã nói là duyên tận,sẽ có kết cục hài hòa,nếu như thuộc ác duyên thì sẽ có kết cục đau thương lắm.

Dũng bút: vậy xin thỉnh giáo,nếu như hai vợ chồng lại có thêm người thứ 3 xen vào thì thuộc nhân quả gì ?
Bồ tát: nhân duyên này nhất định là có nợ lẫn nhau,bất luận là ngoại tình hay người thứ 3 xen vào,đều là dấu hiệu của nhân duyên thiếu nợ.

Dũng bút: gay thật,câu này của bồ tát làm cho những kẻ ngoại tình hay người thứ 3 trên thế gian đội lên cái mũ đàng hoàng làm cớ rồi,ví như người A xen vào gia đình người B và người C,người A có thể mạnh miệng nói,đây là mắc nợ nhân quả mới có sự ngoại tình của người C,cứ như vậy mà kêu to,thiếu nợ phải trả nợ chứ,như vậy thì khổ rồi,bồ tát ạ,đoạn này không thỏa đáng,chúng ta xóa đi,làm lại từ đầu.

Bồ tát: toàn là nói bừa,đây là nói rõ một đoạn nhân quả của vợ chồng họ,không phải trường hợp nào cũng vậy.không những thế,loại ác nhân duyên này là loại hành vi tự tạo nghiệp,gieo xuống cái nhân này nên mới có hiện tượng như vậy,nếu như lấy cớ này mà kêu to thì quả thật là kẻ cực ác vậy,tự mình đọa lạc,càng tạo thêm ác nhân duyên để sinh tử luân hồi mãi.

Dũng bút: nói như vậy thì người trong tình hình này không biết rõ,chúng ta nói quan hệ nhân quả cho họ biết khuyên họ tin hiểu nhân quả mà tỉnh ngộ,càng có thể thoát khỏi sự trói buộc của nghiệp nhân này.Biết được nhân quả loại này cần phải thận trọng không được vi phạm.Ừ,đúng rồi,đệ tử nhớ là ân sư trong lúc viết Ngũ Hoa Thập Sắc thuyết Nhân Sinh có đề cập án lệ này,người phụ nữ đó sống chung với hai người chồng dưới một mái nhà,giải thích nhân quả của họ như bồ tát đã nói vậy.

Bồ tát: đó là một loại ác nhân duyên,do thế đạo nhân tâm không trung hậu,tạo nên rất nhiều chuyện lạ vậy,trước mắt tạo nên hậu quả bất chánh này,ta đặc biệt nhắc đến trong sách để cho người đời hiểu rõ không được phạm phải,càng không được lấy cớ mà làm bừa.

Dũng bút: xin bồ tát nói rõ là loại nghiệp nhân nào tạo nên hậu quả như vậy mới làm người đời kinh sợ.

Bồ tát: đương nhiên,loại nghiệp nhân này có thể phân chia làm 2 loại: thứ nhất không được lợi dụng người,càng không được dùng mưu kế chơi đùa người khác mà lợi dụng.ví như lấy hàng dỏm bán cho người,làm cho người bị thiệt thòi mắc lừa,cả đời tích lũy tội nghiệp thì bị quả khổ này.thứ hai là không được lừa đảo,lấy lừa người làm thủ đoạn để thỏa tư dục cũng sẽ bị khổ quả như vậy.

Dũng bút: thì ra là vậy,nhưng mà người lợi dụng thọ quả báo thì hai người kia cũng vậy sao ? để cả ba cùng đầu thai rồi cùng nhau chịu trả nghiệp sao ?

Bồ tát: cũng có thể như vậy.mà cũng có thể trong một kiếp này,bọn họ không có liên quan nhưng trong nhiều kiếp trước họ có liên quan rồi cùng nhau thọ khổ quả.

Dũng bút: cảm tạ bồ tát khai thị,đệ tử hiểu rồi.

Bồ tát: vậy hôm nay viết sách đến đây chấm dứt.

PHẦN 5: GIẢI NGUYÊN THẦN BỆNH
Nam Hải Quan Âm bồ tát giáng.

thánh thị: tiếp sách "nhân quả bệnh tượng ấn chứng",Dũng bút hiền sinh trong kỳ trước có khá nhiều câu hỏi với ta,vì trước mắt con quá bận rộn công việc nên rất khó có thời gian tìm tòi rồi.

Dũng bút: vâng ạ,mỗi một con người bất luận là làm nghành nghề nào đều có lúc khó khăn,nếu không tự mình học hỏi thì khó thoát khỏi cảnh khốn đốn.may là trước mắt trong tay đệ tử lãnh chỉ viết sách có nhiều thứ muốn biết liền có thể biết được,nếu không đệ tử đúng là anh tài cũng có lúc bó tay.

Bồ tát: con càng lúc càng biết khiêm tốn rồi,tuy rằng không có thời gian ôn luyện tri thức mới,mà có được thành quả như vậy thì thật đáng khen.

Dũng bút: không dám,đệ tử không dám tự mãn,đợi khi hoàn tất mấy quyển sách này,đệ tử xin được bế quan 3 ngày,lúc đó xin bồ tát gia trì cùng truyền thọ đệ tử Đại Cư Sĩ Chánh Thừa Bồ Đề Tâm Pháp.
Bồ tát: con muốn tu bồ tát giới thì dễ thôi,đến lúc đó ta sẽ giúp một tay.

Dũng bút: cảm tạ bồ tát phật ân.Đúng rồi,đệ tử xin lại thỉnh giáo,nghiệp lực đeo bám quấy nhiễu nguyên thần bệnh,xin bồ tát khai thị cái lý luận này.

Bồ tát: cái này trong bồ tát giới có một đoạn văn đề cập,tuy rằng văn bổn ý không phải giải thích định luận này nhưng mà có thể làm ấn chứng,con có nhớ đoạn văn đó không ? ta sẽ nhắc nhở đôi chút,đó là tu trì bồ tát giới lúc mới nhập nền tảng lúc đầu thì có hiển hoá....

Dũng bút: đệ tử nhớ rồi,bồ tát tha tội,lúc đó có người tu hành,kinh qua sanh lão bệnh tử,hoắt nhiên liễu ngộ nhân sinh khổ hải,như thật mà là giả,rồi phát tâm nguyện chúng sanh đạo tức thành chánh giác mà Đà La Ni diễn sinh chánh giác là vì bồ tát giới,nay lại danh chúng sanh đại đạo bồ đề tâm,xin hỏi có phải không ?

Bồ tát: rất đúng,những ấn chứng này nói rõ bệnh nguyên thần là trong chúng sinh khổ nạn rời xa chánh giác,chịu các kiếp mài khổ,mượn nhân quả thử thách thành chánh giác,cũng là một trong các pháp môn để phật độ hữu duyên.

Dũng bút: nhưng mà Đà La Ni là pháp danh mà sao lại diễn thành chánh giác ?
Bồ tát: hiền sinh chấp tướng rồi,trong pháp có pháp là sinh sinh bất diệt,cũng như Đạo gia thường nói: "đạo vốn vô danh,miễn cưỡng gọi là đạo vậy",lý này tương đồng.

Dũng bút: cảm tạ bồ tát khai thị bồ tát giới này,đệ tử vốn không muốn tu nhưng có một số loan đường lớn lãnh sắc mệnh,phụng ân chủ làm đạo vụ,sau khi thành tựu lại bỏ phụ loan mà vọng ngôn là lấy pháp môn thâm sâu hơn truyền đạo,đệ tử không phục ở chổ này,mới đem pháp môn bồ tát giới một mạch tu trì để làm rõ đạo lý phật Đạo tương trợ tương thành.

Bồ tát: ta biết tâm ý của con,hãy tự cố gắng.Đúng rồi việc liên quan đến bệnh nguyên thần,con còn có ý kiến gì nữa không ?

Dũng bút: không dám,nếu là nghiệp lực quấy nhiễu,ảnh hưởng nguyên thần người đời,mà bệnh tượng không nhất định,vậy có đường hóa giải không ?

Bồ tát: Ừ,giải nghiệp chỉ có một đường,đương nhiên là "nghiệp nhân quả,công đức giải".nhưng bệnh nguyên thần lại có cách giải quyết khác,ví như tĩnh tọa,từ tĩnh tọa dưỡng thần thì cũng như sạt điện vậy.

Dũng bút: đệ tử đã thật sự hiểu rồi.Nghiệp lực hình thành quấy nhiễu,phàm là người chịu khổ,chúng ta có thể hướng dẫn họ giải nghiệp bằng cách tĩnh tọa cùng phương thức vào đạo,như đoạn văn lúc nãy,bồ tát khai thị rất thích hợp,đệ tử mới thực sự liễu ngộ,đó là cách bồ tát khai thị chính xác vậy.
Bồ tát: cái này không ở trong phạm vi chương này,kỳ sau ta sẽ giải thích nhân quả bệnh của việc tĩnh tọa,thêm giải thích tường thuật,đêm nay viết sách đến đây.Ta về.

PHẦN 6: CHỨNG CÙNG PHÁT,DIỄN SINH CỦA BÙA.
Nam Hải Quan Âm bồ tát giáng.

thánh thị: nhớ lại từ khi viết sách đến nay,đã gần 3 tháng rồi,nếu không cố gắng nữa,sợ sẽ không đúng hạn hoàn tất.

Dũng bút: bồ tát à,hôm qua lúc đệ tử soạn lại văn kiện,đại khái chỉnh lý một phần,nếu như quyển này đơn độc thành sách,đương nhiên là không đủ,nếu như hai phần trên dưới cùng hợp lại thì quá hay.

Bồ tát: không nên nghĩ như vậy,phần trên là phần trên,tuy rằng y chuẩn hợp với phần dưới nhưng phải cần mong cầu hoàn mỹ.Được rồi,không nói chuyện ngoài lề nữa,hôm nay ta có mời Đồng Quân chân nhân và Hoa Đà thần y giải thích và phân tích bệnh tượng của nhân quả tương hỗ đeo bám.Có cơ duyên này,con đừng nên lơ là uổng phí mà làm cho sách này thêm nhiều nội dung hay,được rồi,chân nhân đã đến,con hãy đi nghinh giá.

Đồng Quân chân nhân giáng.
thánh thị: hôm nay nhờ Nam Hải cổ phật thỉnh mời,tham gia viết sách"nhân quả bệnh tượng ấn chứng",thật là vinh hạnh.

Dũng bút: đệ tử tiếp giá,xin chân nhân thượng tòa,dung đệ tử kính trà thỉnh giáo.

Chân nhân: không cần đa lễ,viết sách là quan trọng,có vấn đề gì cứ trực tiếp hỏi.

Dũng bút: vậy đệ tử thỉnh giáo chân nhân,một khi bị bệnh khổ bên trong không phát ra ngoài,để lâu hình thành bệnh cùng phát,trên y lý phải giải thích ra sao ?

Chân nhân: đây là hiện tượng kháng lực của cơ thể suy giảm,ví dụ như bị đinh sét đâm trúng,nếu đinh sét có vi khuẩn uốn ván mà thọ thương và người này kháng lực không đủ thì xui xẻo rồi.Nói cách khác,nếu kháng lực đủ sức thì vi trùng của đinh sét không xâm nhiễm được tức có thể tránh khỏi.

Dũng bút: vậy chứng trạng này có khả năng là bệnh nhân quả hay không ?

Chân nhân: không phải,một số người đều nghĩ rằng bệnh chứng thay đổi bất định đều là bệnh nhân quả,thật ra không phải vậy,giống loại chứng cùng phát này,tất có bệnh lý tồn tại,không nên gom chung mà nói.

Dũng bút: vậy đệ tử xin thỉnh giáo,có một loại bệnh như khi thức dậy sớm cảm thấy đau đầu,nhức mắt,tay tê,mà thực tế không làm những công việc nặng nhọc,cũng ngủ được,nhưng mà trên y lý lại chẩn đoán là bệnh thần kinh suy nhược,vậy có tính là bệnh nhân quả không ?

Chân nhân: đúng vậy,đó là một loại bệnh nhân quả,vì chứng bệnh này không chỉ là đau đầu và tay tê,một số người chẩn bệnh là do khí huyết tuần hoàn không tốt,nhức mắt là do thần kinh thị giác có chướng ngại,nếu như chẩn đoán là thần kinh suy nhược thì cần phải có ngủ mơ khó tỉnh mới cấu thành bệnh chứng này được.Tại sao gọi nó là bệnh nhân quả,tại vì chứng trạng này thuộc trung khu thần kinh,mà phần trung khu thần kinh này lại liên quan đến nguyên thần,nói cách khác là nguyên thần yếu.Mà nguyên thần yếu,cách giải thích duy nhất là do nghiệp lực quấy nhiễu nên gọi nó là bệnh nhân quả.

Dũng bút: cảm tạ chân nhân khai thị,đệ tử lại muốn thỉnh giáo,phàm là những bệnh do bùa phép gây ra thì chân nhân giải thích ra sao ?

Chân nhân: điểm này thì con hãy hỏi bồ tát,ta giải thích đến đây là đủ rồi,được,ta về đây.

Bồ tát: tổn hại do bùa chú tạo thành vốn rất ít,chính vì bùa mạch bàng chi quá nhiều nên có hiện tượng như vậy.được,con cứ hỏi.

Dũng bút: có một người trong lòng cứ lo lắng nghi thần nghi quỷ,cứ cho là mình bị bỏ bùa đến sắp điên được,đây có phải là bệnh nhân quả không ?

Bồ tát: hoàn toàn chính xác.Sức bùa là một loại tập trung sức mạnh của tự nhiên,được kẻ biết cách dẫn dắt lợi dụng mà phát ra như nước chảy,nhưng có thể nhờ nó phát điện,quá trình bên trong chỉ có một phương pháp thôi,lại giải thích,vì sao người bị trúng bùa lại là bị bệnh nhân quả ? vì sức bùa là sự tập trung của đại tự nhiên có liên quan mật thiết đến tiểu chu thiên của con người,do đó,thân người sẽ bị đại tự nhiên làm tổn thương,và cũng là nghiệp lực từ tự nhiên quấy phá thân người,làm anh ta không những không thể chống lại được mà bị thọ thương.

Dũng bút: đệ tử hiểu rồi,bản thân con người bị nghiệp lực quấy nhiễu sự đề kháng bình thường mất tác dụng,đúng lúc đó,bùa chú sẽ xâm nhập vào thân.Thì ra có rất nhiều phù tiên tử đều suy nghĩ kỹ trước khi chọn đối tượng bỏ bùa.Ừ,đệ tử nhớ là bùa chú đã được trời thu lại từ lâu rồi,sao nay lại còn có nữa ?

Bồ tát: con chỉ biết một mà không biết hai,bùa chú tuy đã không còn lưu truyền trong nhân gian nhưng vẫn còn những kẻ biết lúc trước cha truyền con nối nên vẫn hiện hữu,mà sự thất truyền mới chỉ trong mười mấy năm nay.

Dũng bút: thì ra là vậy,đệ tử hiểu rồi.cảm tạ bồ tát khai thị,có thể tạm ngưng một chút không ? thời gian nhanh như vậy,đệ tử chưa nghĩ được câu hỏi.xin tạm dừng chút.

Bồ tát: được,tạm dừng,ta lui.

Hoa Đà Tiên Ông giáng.

thánh thị: tham gia viết sách thật hân hạnh,hiền sinh có vấn đề gì xin cứ hỏi.

Dũng bút: đệ tử cung nghinh tiên ông pháp giá.xin có câu hỏi thỉnh giáo,có rất nhiều bệnh nhân quả đều từ một số bệnh nhỏ dẫn đến,tình hình như vậy có phải trị hết những bệnh nhỏ thì bệnh nhân quả cũng khó phát triển xấu đi.

Tiên ông: đương nhiên là được,nhưng nếu là bệnh nhân quả thì khi xuất hiện những bệnh nhỏ cũng không chữa được.

Dũng bút: đúng vậy,cũng như bệnh cảm sốt,chỉ cần quá sốt cũng gây câm điếc,thậm chí tay chân tàn tật,có loại sẽ dẫn đến ung thư nghiêm trọng,loại bệnh nhân quả như vậy có thể có cách tránh né không ?

Tiên ông: vấn đề này ở phần trên con có đề cập đến nên ta không có nói thêm.chuyên đề vào bệnh nhân quả giải thích,trên đại thể bệnh nhân quả có tính cùng phát thường có nhân tố thứ 3,sao gọi kẻ thứ 3 ? bản thân và bệnh trạng,sự và vật hay là người đều có thể cấu thành kẻ thứ 3.

Dũng bút: ý của tiên ông là chỉ nhân tố bên ngoài,mới hình thành cái hiện tượng này.

Tiên ông: đúng vậy,nếu như không có nhân tố bên ngoài này,ví như sốt nóng quá,nhưng trong quá trình phát sốt nếu như có thể cẩn thận chăm sóc thì có thể tránh được,cũng có nghĩa đương sự và người chăm sóc có nhân quả liên quan,có liên quan nên mượn tay hắn để hoàn thành bệnh chứng mà kết liễu nghiệp nhân quả.

Dũng bút: tiên ông khai thị như vậy,đệ tử hiểu rồi,tình hình này thuộc gián tiếp,do đó thượng thiên bồ tát lúc khai thị đều nhắc nhở tu thiện công hồi hướng tiêu nghiệp trước lúc nhân quả đeo bám đòi nợ.
Tiên ông: đúng vậy,vấn đề đã được giải quyết,ta về đây.

PHẦN 7: NHÂN QUẢ BỆNH TƯỢNG TĨNH TỌA.
Nam Hải Quan Âm bồ tát giáng.

thánh thị: viết sách.đêm nay ta khai thị hiện tượng nhân quả liên đới sản sinh của việc tĩnh tọa.

Dũng bút: bồ tát à,xin tha thứ cho đệ tử xen vào,hậu quả nghiêm trọng nhất của tĩnh tọa là tẩu hỏa nhập ma,đệ tử chưa từng nghe tĩnh tọa lại sản sinh hiện tượng nhân quả,xin bồ tát vì đệ tử giải nói.

Bồ tát: tĩnh tọa khóa trình là một môn tu trì,Phật và Đạo hai môn đều có nói rõ truyền đời,gần đây ngay cả những tôn giáo được cho là ngoại đạo như cơ đốc giáo cũng bắt đầu học tĩnh tọa.Ta đặc biệt nhắc đến là để xiển thuật tĩnh tọa vì tùy mỗi người mà có sự khác nhau,trong quá trình tĩnh tọa là sự thả lỏng giả thể,linh thần phục hồi.Vì bình thường linh thần bị giả thể trói buộc,do đó trong quá trình điên đảo làm sản sinh linh thần bị quấy nhiễu,mà sự quấy nhiễu này đến từ linh giới,đương nhiên là bao gồm nhân quả nghiệp lực.

Dũng bút: ý của bồ tát là nghiệp lực sẽ nhân lúc người tu trì tĩnh tọa mà quấy phá tạo thành bệnh nhân quả,nếu như thế ai dám tĩnh tọa nữa.

Bồ tát: ai nói không có người tĩnh tọa ? một số người truyền thụ tĩnh tọa,đều được dạy cách mời thần hộ pháp hộ trì,thì không có vấn đề gì.Cái đáng sợ là những kẻ không biết pháp môn tĩnh tọa mà làm bừa thì bị bệnh là đúng rồi.

Dũng bút: vậy bệnh tượng nhân quả của việc tĩnh tọa sản sinh ra sao ?

Bồ tát: đại để là giống bị tẩu hỏa nhập ma vậy,có loại như điên cuồng hay tinh thần mơ màng,nhưng có thể phân biệt rõ,tẩu hỏa nhập ma đa số là khí tán thần độn,màu sắc thần mắt và khuôn mặt thuộc lửa đỏ mà nghiệp lực quấy phá thuộc chứng âm,sẽ có trạng thái lạnh sát,ngoài ra,cũng do tĩnh tọa mà sản sinh khí cơ bất thuận,một bộ phận nào đó trên cơ thể bệnh đau,không có ích mà còn có hại.

Dũng bút: vậy phương pháp tĩnh tọa đúng là gì ?

Bồ tát: nếu theo chánh tông thiền tọa mà nói là ngồi kiết già,mắt nhìn mũi,mũi nhìn miệng,cằm dưới thu lại,lưỡi đẩy lên hàm trên,hít sâu,thở ra từ từ,khí nạp đan điền,vận hành chu thiên,thời gian ít nhất là một cây nhang mới tạo công chu thiên kinh mạch chạy khắp.Đan đạo diễn thành tay nắm bát quái,để ngoài đan điền để giúp thu khí,làm đan ra ngoài hoa cái,kết thành nguyên anh.Như trên là cách tĩnh tọa quen thuộc của Phật và Đạo gia.Thánh môn cũng có tĩnh tọa,bất kể hình thức mà tĩnh tọa,điều quan trọng là định tĩnh,mục tiêu tĩnh tọa là để lập đức,nhưng đây là cách nhà Nho tu dưỡng trí tuệ và phật đạo có khác nhau,phật đạo giảng thông khí hải,quán nhâm đốc,Nho giảng tâm linh trí hiện thông huệ hải.Lại tĩnh tọa theo mật tông,trong đó hiển mật hai chi có phân biệt,mật phái giảng thần thông,kết thủ ấn,loại tĩnh tọa này lại có đặc thù,trước mắt có khá nhiều tu sĩ tĩnh tọa để cầu thần thông,đó là lý do mật tông có nhiều người tẩu hỏa nhập ma như vậy.

Dũng bút: bồ tát khai thị như vậy,vậy những trường hợp tĩnh tọa bị nghiệp lực xâm hại thì phòng tránh cách nào ?

Bồ tát: dễ thôi,phong lấp huyệt khiếu,giải nghiệp thì không sao.Nhưng mà có điều kiện tiên quyết là thời gian càng ngắn thì càng mau hết.

Dũng bút: cảm tạ bồ tát không phiền mà khai thị,đệ tử thọ dụng được nhiều.

Bồ tát: vậy đến đây kết thúc.


PHẦN 8: DUYÊN SANH DUYÊN DIỆT.
Nam Hải Quan Âm bồ tát giáng.

thánh thị: hôm nay quí đường có duyên đạo tử hợp lại tham loan,có thể nói là thánh hội,ta cùng viết sách thôi.

Dũng bút: xin hỏi bồ tát,cái chữ "duyên" này đứng trong nhân quả luận giữ một vai trò rất quán xuyến toàn bộ,xin bồ tát khai thị ý nghĩa chân thật của duyên sanh duyên diệt.
Bồ tát: cái gọi là duyên,không phải chỉ phương diện động mà duyên sinh duyên động đều trong động tịnh,do đó trong duyên luận rất sợ khởi ý,vì ý khởi niệm động thì mất cái tịnh,vô tướng đã bị khuyết,vạn tướng bị che,thì không thể lấy tịnh khởi huệ,huệ không đủ,trí không sinh tắc không thấy được mọi sự mà trong mơ màng sinh chướng ngại.

Dũng bút: như vậy trong nhân quả luận,trong động tịnh làm sao tương sanh mà thành thiện duyên.
Bồ tát: có ý tắc hành,hành tắc có ý,cái này là nhất tịnh cũng như nhất động,không thể vì nghẹn mà không ăn,cần phải có động mà trước sau được tịnh.

Dũng bút: lý luận mà bồ tát khai thị,có thể ví dụ cụ thể không ?

Bồ tát: được,cuộc sống ở đời thường hay là người tu hành đa số là nằm trong phương diện tĩnh,bởi vì đây là hiện tượng tất nhiên,do đó nó thuộc tĩnh,cũng vì thế nó làm sản sinh rất nhiều thiện duyên;nhưng mà từ nhiều kiếp đến nay,có vô lượng kiếp nghiệp làm sản sinh sóng gió,đó là động.Nhân vì trong giữa động tịnh,nếu không điều chỉnh thích hợp thì sẽ sản sinh chướng ngại,duyên không thể sinh tắc không thể diệt.Phật nói tất cả pháp vì tất cả chúng sinh nhưng đến đây chúng sinh lại rơi vào mê ly,nên phật nói vô ngã vô tướng,không thức đều phá,là để bỏ đi khoảng cách của động và tịnh,chính là cảnh giới đốn ngộ.Nhưng trong nhân quả luận,lại có một nghi vấn rất khó giải thích,tức là sự thay thế trình tự phá hoại động tịnh bình thường sản sinh từ vô lượng kiếp nên có khá nhiều luận giải ra đời để phụ trợ,ví dụ như luân hồi đới nghiệp,luân hồi là mượn hết kiếp này đến kiếp khác tiêu trừ nghiệp nhân,đới nghiệp là hồi hướng,lấy công đức tu hành để trừ tội vô lượng kiếp trước.

Dũng bút: bài giảng này làm đệ tử loạn óc quá,xin để từ từ nghiên cứu mà tiêu hóa mới được,cảm tạ bồ tát khai thị.

PHẦN 9: RÕ NHÂN SỢ QUẢ.
Nam Hải Quán Âm Đại Sĩ giáng.

thánh thị: quyển "nhân quả bệnh tượng ấn chứng" đến đêm nay là vừa đủ kỳ hạn 3 tháng rồi,nên đêm nay cũng là phần kết của quyển sách,ta muốn làm một đoạn kiểm thảo của trên dưới hai phần để làm kết thúc,hiền sinh cảm thấy thế nào ?

Dũng bút: ý bồ tát đã như vậy,đệ tử sao dám không tuân,vậy đệ tử không khách sáo mà thỉnh giáo bồ tát,con người tại thế,gần như thoát không được sự đeo bám của nhân quả,nếu như có người dứt khoát buông xuôi mặc cho trầm luân thì có phải là sự kháng nghị không lời không ?

Bồ tát: đó chỉ là cái cớ,nhân quả có quy luật riêng,không có nhân thì làm sao có quả,tự mình buông thả thì chỉ là biểu hiện của kẻ khiếp nhược không có chánh tín,sao là kháng nghị được ?

Dũng bút: nhưng nếu nhân quả giải trừ không được thì phải làm sao đây ?

Bồ tát: đường cùng chỉ là một từ ngữ hình dung,thế gian làm gì có cửa ải nào phá không được ? thử hỏi,phật tổ 6 năm khổ hạnh dưới cội bồ đề,Đạt Ma 9 năm diện bích thì nếu không phải chịu đủ cay đắng mới sinh đại trí huệ mà phá mê ly cảnh giới sao ? với lại thế gian tuyệt đối không có nhân quả nào hóa giải không được,chỉ có điều con giải quyết cách nào thôi ?

Dũng bút:được rồi,cho dù nhân quả hóa giải được nhưng quá trình trải qua thật gian khổ làm người khó lòng yên ổn,ví dụ như có người hỏi đệ tử rằng: kiếp này tôi không có làm chuyện tày trời cực ác nào hết mà cứ bị kẻ khác nhục mạ ăn hiếp,thậm chí chiếm đoạt tài sản,nếu như nói kiếp trước tôi làm ác nên kiếp này bị quả báo và những kẻ nhục mạ ăn hiếp tôi,đoạt tài sản tôi là người tốt vào kiếp trước nên được phước báo như vậy.như thế mỗi người khi bị ăn hiếp đều phải tự nhận,nói là do nhân quả nghiệp báo đem lại sao ? vậy mỗi người đều phải tự dùng hết thủ đoạn lấn lướt người khác thì mới không bị gọi là ác nhân kiếp trước sao ? vấn đề là như vậy,xin bồ tát khai thị giúp.

Bồ tát: nói hay lắm,nếu không giải thích rõ chổ này sẽ làm người đời ngộ nhận về kẻ ác trong kiếp này đều là người tốt trong kiếp trước hết rồi.Định luật của nhân quả,không có ý nghĩa đặc định cho kiếp trước kiếp sau như vậy,từ sau khi Quan Hoàng đăng cơ chưởng Linh Tiêu,đã sửa lại luật trời,quả báo trở thành hiện kiếp báo,cũng là để kẻ tạo nhân sớm thọ quả báo,lại nhân tạo lập không nhất định là do quả do nhân kiếp trước,tự tạo nhân mới là tự tạo nghiệp,quá trình đời người không chỉ do nghiệp nhiều kiếp quấy nhiễu mà còn có bị tâm ma tác quái,một khi đối diện tâm ma của mình tác quái,rõ ràng là việc không đáng làm lại làm bậy như không có trí tuệ,do đó từ khởi niệm cho đến hành sự lại làm nhân quả mới hình thành.

Dũng bút: bồ tát khai thị như vậy,đệ tử cho vài ví dụ,xin bồ tát chỉ giáo.Nếu như có một người vốn rất hiền lành nhưng khi thấy chuyện không liên quan mà thiên vị một bên mà khi một người thiên vị một bên nào đó thì là do họ ghét bên còn lại,tuy chỉ là tranh cãi mà làm cho 3 người không vui,sau cùng một bên không cam chịu nhục,phẫn nộ hành hung,vậy có thể nói là anh ta chịu tai nghiệp,tạo nhân mới không ?

Bồ tát: tuy không phải nhưng cũng không khác,ta sẽ bổ sung nói rõ,điều kiện tiên quyết cho cái gọi là tạo nhân mới,cần phải không có nghiệp duyên dính mắc nhiều kiếp trước,thuần túy chỉ là sự gặp nhau của hai đường thẳng giao nhau.Như sự việc đã nói lúc nãy,nếu nguyên nhân thiên vị không phải do ghét đối phương thì là tạo nhân mới.

Dũng bút: thì ra là vậy,đệ tử hiểu rồi.

Bồ tát: ơn trên phải giáng sách nhân quả bệnh tượng tích luận và ấn chứng là để người đời hiểu nhân sợ quả,tăng trưởng phổ hóa nhân quả luận,sâu vào lòng người để làm tiếng chuông đánh thức tâm sợ ác quả của người đời,mà tránh tạo nghiệp,nhân vì điều trọng yếu của sách là nói rõ gốc rễ của nhân quả để người đời có thể hiểu được nhân quả là gì mới đạt được hiệu quả chánh nhân sợ quả.Quyển sách đến đây hoàn toàn kết thúc,kỳ sau ta đã thỉnh mời quí đường Quan chủ tịch tác lời bạt,ta sẽ không giáng đường nữa.
Lại thị: cùng chư hữu duyên kết thần duyên sa bàn,ta cũng rất hoan hỷ,sau này có duyên sẽ gặp lại,thâm nguyện chư hiền sinh đạo trình như trước tiến vô ngại.

Bổn đường chủ tịch Quan đăng đài.

Bạt
thánh thị: ta vì sách nhân quả bệnh tượng ấn chứng tác bạt.
người,nhân tâm bất thiện,ác nghiệp thao thao;thiên ý vô tư,ân trạch miên miên,vì độ hóa chúng sanh tin sợ quỉ thần mà xiển thuật luận về nhân quả,mong chấn nhân tâm,tiến vào nhớ thiện lập đức.Bổn đường may mắn,mong nhờ Nam Hải Quan Thế Âm bồ tát bút gỗ huy loan,khai mở sách thánh nhân quả bệnh tượng hai phần trên dưới,để xiển dương thanh thế thánh môn hoằng đạo phổ hóa,đặc biệt là phần trên "nhân quả bệnh tượng tích luận",ban sách cho đời đã phổ hóa rất hiệu nghiệm,mà lập nên một tiêu chuẩn cho phương châm phổ hóa của thánh môn,nay thêm phần tiếp theo lý luận rất hay bổ sung án lệ cụ thể càng làm tinh hoa cho luận về nhân quả,tạo nên hiệu quả vô cùng.
Ta thâm nguyện người đời đọc sách hãy thể ngộ đường đi nước bước của nhân quả và tình tiết diễn sinh của nó tắc giúp cho cuộc đời thuận lợi may mắn,không được đọc chơi như tiểu thuyết mà phụ lòng của Quan Âm bồ tát viết sách khổ cực.Sách nay đã thành,vài lời như thế làm bạt.

HẾT.

Cách duy nhất để hết bệnh, là điểm đạo tu hành mật tông thiên đình để sửa nghiệp tăng phước.

Read More
      edit