Hiển thị các bài đăng có nhãn Vấn Đáp. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Vấn Đáp. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 30 tháng 5, 2017

Published tháng 5 30, 2017 by ana03 with 0 comment

Đức Phật Đã Giác Ngộ Có Còn Bị Chi Phối Bởi Quy Luật Nhân Quả Không?

VẤN: Ngày rằm tháng tư, Phật tử mừng ngày Đức Phật Đản Sanh. Con thắc mắc nếu đã là một vị Phật giác ngộ tại sao lại có đản sanh và có niết bàn. Vậy Đức Phật làm chủ việc sanh tử ở đâu mà còn có sự sống và chết. Nếu đã là một bậc giác ngộ vậy Đức Phật có còn bị quy luật nhân quả chi phối không? Con xin cảm ơn Sư rất nhiều.



ĐÁP:

Phật là bậc giác ngộ giải thoát, làm giáo chủ cõi Ta bà, tức là Phật làm chủ được thế giới sanh tử của tự thân và tha nhân. Vì thế khi Đức Phật thị hiện vào đời độ sanh luôn có 3 thân, một là Pháp thân tức là thân bất sanh bất diệt, hai là thân trang nghiêm (báo thân), ba là ứng hóa thân, thị hiện vào thế giới loài người có mang thân quả báo.


Ba thân:

1/. Một là pháp thân: thân thể tính thật sự của Phật, đồng nghĩa với Chân như, là thể của vũ trụ. Pháp thân là thể mà Phật và chúng sinh đều có chung. Pháp thân cũng chính là thân giáo pháp, là quy luật vận hành trong vũ trụ, là giáo pháp do đức Phật truyền dạy. Phật xuất hiện trên trái đất, với nhân trạng, với mục đích cứu độ con người. Pháp thân được xem chính là thân Phật pháp như Phật Thích Ca giảng dạy trong thời còn tại thế. Có chúng sanh, thì có pháp Phật vào đời, có pháp Phật vào đời thì có Phật thị hiện vào đời, thân thị hiện đó gọi là pháp thân.

Trong kinh Niết Bàn, phẩm Như Lai Thường Trụ, nói về pháp thân Phật ở một dạng khác, Phật dạy: “Như Lai là thường trụ, Như Lai không từ đâu đến đây mà cũng không đi về đâu cả, Như Lai không có sanh ra trong cung vua Tịnh Phạn, cũng không có nhập Niết Bàn nơi thành Câu Thi Na, dưới cây Sa La… mà Như Lai là thường trụ”.

Như Lai vì chúng sanh mà thị hiện vào đời có sanh ra trong cung vua Tịnh Phạn, có nhập Niết Bàn nơi thành Câu Thi Na, thân Như Lai là thân trí tuệ vượt ngoài tam giới, là thân bất sanh bất diệt.

2/. Hai là báo thân, cũng được gọi là thọ dụng thân, “thân của sự thụ hưởng công đức”: chỉ thân Phật xuất hiện trong các Tịnh độ. Báo thân là thân do thiện nghiệp và sự giác ngộ của các Bồ Tát mà hoá hiện cho thấy. Cũng vì vậy mà có lúc được gọi là thọ dụng thân, là thân hưởng thụ được qua những thiện nghiệp đã tạo. Báo thân thường mang ba mươi hai tướng tốt và tám mươi vẻ đẹp của một vị Phật.

3/. Ba là ứng thân, cũng được gọi là ứng hoá thân hoặc là thân Phật hiện diện trên Trái Đất. Ứng thân do báo thân chiếu hiện, dựa trên lòng từ bi và có mục đích giáo hoá chúng sanh. Như thân người, Ứng thân chịu mọi đau khổ của già chết bệnh tật, nhưng Ứng thân có thần thông như thiên nhãn thông và thiên nhĩ thông. Sau khi chết, Ứng thân tự tiêu diệt.

Kinh Trung bộ, số 4, Phật dạy: “…vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì an lạc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì an lạc cho chư thiên và loài người… mà Đức Phật thị hiện vào đời”. Vì vậy Đức Phật là bậc giải thoát sanh tử luân hồi, làm chủ được dòng đời, tự tại ra vào thế giới sanh tử luân hồi.

Phật mang thân ứng dụng có quả báo:

Tuy nhiên đứng về gốc độ Đức Phật lịch sử, có sanh thân ứng dụng vào đời, Đức Phật Thích ca vì chư Sa môn, vì chúng sanh trong thế giới Ta bà mà thị hiện mang thân tứ đại sanh ra trong cung vua: có cha là Tịnh Phạn Vương, mẹ là Hoàng hậu Ma Da, lớn lên có gia đình, đăng quang làm hoàng thái tử, đến khi giác ngộ, trốn gia đình xuất gia tầm đạo, thành đạo với danh hiệu là Bổn sư Thích Ca Mâu Ni, có tha tâm thông biết việc quá khứ, có thiên nhãn thông thấy biết việc vị lai, đi hành đạo đến 80 tuổi nhập Niết Bàn.

Đấy là thân thị hiện trong thế giới sanh tử, nhưng giác ngộ và làm chủ được thế giới sanh tử luân hồi; không khổ đau oằn ọai như mọi người, làm chủ được môi trường, điều phục những người hung ác như Thiện Tinh Tỳ kheo trong Kinh Niết Bàn, Đề Bà Đạt Đa trong kinh Kinh Đại Bảo Tích để lại cho chúng ta thấy những vị nầy luôn luôn có tâm ý, hành động chống phá Đức Phật, làm hại Phật, hại thân Phật ra máu, hay một tướng cướp Ương Quật Ma La cầm gươm chém Phật nhưng Ngài vẫn điềm nhiên tọa thị, tha thứ những lỗi lầm của họ. Cuối đời Đức Phật vẫn thọ ký cho họ thành Phật, như Đề Bà Đạt Đa thành Phật là Thiên Quang Vương Như Lai

Chuyện nhân quả:

Trong Kinh Tăng Nhất A Hàm, quyển 2, phẩm Đăng Kiến, nói: Tại kinh thành Ca Tỳ la vệ quá khứ, có một cái hồ lớn, nhân mùa nắng hạn, cá mắc cạn, dân trong thành thi nhau bắt cá để ăn, trong đó có con cá lớn đang chờ chết. Từ xa có một chú Bé độ 13 tuổi, ăn chay trường đứng xem người bắt cá, chú Bé nghịch lấy cây gỏ lên đầu cá lớn, nhưng không chết…

Thành Ca Tỳ La vệ ở hiện kiếp, Bồ tát Sĩ Đạt Ta sanh ra trong cung vua Tịnh Phạn, đi tu và thành Phật hiệu là Thích Ca Mâu Ni. Ngày nọ có vị Hoàng Thái tử Lưu Ly, nước Kiều Tát La, mới 8 tuổi, con của vua Ba Tư Nặc và Mạt Lợi Phu Nhân, thuộc bà con bên ngọai của Đức Thích Ca đến thăm nước Ca Tỳ La vệ; vì tuổi nhỏ chưa biết sự tôn kính Đức Phật, nên có nhảy lên kim cang tòa của Đức Phật ngồi, lính cận vệ của Nhà Vua bảo: “xin Hoàng thái tử không nên leo lên tòa ngồi của Phật vì Đức Phật là bậc tôn kính, xin ngài hãy leo xuống…” - Hoàng thái tử Lưu Ly tức giận tại sao mọi người không cho Ngài ngồi trên đó, Ngài nghĩ ta cũng xứng đáng ngồi trên đó chứ!

Đến khi khôn lớn, Hoàng Thái tử Lưu Ly, soán ngôi Vua cha lên ngôi báu gọi là Vua Lưu Ly, Nhà Vua nhớ lại lúc nhỏ đến quê ngọai Ca Tỳ La vệ bị làm nhục, nên cất binh đánh nước Ca Tỳ La vệ của Vua Tịnh Phạn, Vua Lưu Ly cho bắt hết dân trong thành thuộc dòng họ Thích đem giết, bỏ vào một hố lớn, có người vẫn còn sống nằm dưới hố rên rỉ! Tôn giả Mục Kiền Liên dùng thiên nhãn nhìn thấy dòng họ Thích của Đức Phật bị nạn như thế, xin đi cứu hộ, can ngăn Vua Lưu Ly dừng tay giết dòng họ Thích của Đức Phật. Nhưng khi đi đến nơi mọi người đã chết, không cứu được.

Đức Phật dạy: Đó là quả báo của Ta và dòng họ Thích, ngươi bảo các người dòng họ Thích không nên đánh lại nước Kiều Tát La của Vua Lưu Ly!

Đức Phật dạy: Tiền thân Vua Lưu Ly là “cá lớn lúc đang mắc cạn, bị ta gỏ lên đầu 3 lần”, lính của Vua Lưu Ly là số “cá bị mắc cạn”, dân trong thành bắt cá ăn lúc bấy giờ, nay là dân dòng họ Thích, chú Bé 13 tuổi nay là Ta: Thích Ca Mâu Ni, do Ta có gỏ lên đầu “cá lớn” ngày trước, nên lúc Vua Lưu Ly đánh giết dòng họ Thích, Ta bị nhức đầu…

Trong bản kinh tạng Trung Bộ, bản dịch Hòa Thượng Thích Minh Châu, Phật dạy: “Ta nhớ đến nhiều đời sống quá khứ, như một đời, hai đời, ba đời, bốn đời, năm đời, hai mươi đời, bốn mươi đời, năm mươi đời, một trăm đời, một ngàn đời, một trăm ngàn đời, nhiều hoại kiếp, nhiều thành kiếp... Ta nhớ rằng: Tại chỗ kia, ta có tên như thế này, dòng họ như thế này, giai cấp như thế này, ăn uống như thế này, thọ khổ lạc như thế này, tuổi thọ đến mức như thế này. Sau khi chết tại chỗ kia, ta được sanh ra tại chỗ nọ. Tại chỗ ấy, ta có tên như thế này, dòng họ như thế này, giai cấp như thế này, ăn uống như thế này, thọ khổ lạc như thế này, tuổi thọ đến mức như thế này. Sau khi chết tại chỗ nọ, ta được sanh ra ở đây... Như vậy Ta sẽ nhớ đến những đời sống quá khứ, cùng với các nét đại cương và các chi tiết”.

Đức Phật thị hiện trong cuộc đời, tại đất Ấn Độ cổ là để giải thoát những khổ đau oằn ọai của chúng sanh, xóa tan những giai cấp bốc lột lẫn nhau, hận thù chém giết lẫn nhau của con người… đây là nguyên nhân chủ yếu Phật độ đời, thị hiện vào đời, chấp nhận cuộc sống có tử sanh, sanh tử theo quy luật nhân quả thời gian.

HT Thích Giác Quang
Read More
      edit

Thứ Bảy, 16 tháng 5, 2015

Published tháng 5 16, 2015 by ana03 with 0 comment

Thôi miên và áp vong Sự khác biệt từ bản chất đến hình thức

Gần đây có nhiều bài báo đăng tải ý kiến cho rằng Áp vong thực chất là hiện tượng thôi miên. Tạp chí Kinh tế Châu Á – Thái Bình Dương đã đặt vấn đề này với ông Nguyễn Vũ Tuấn Anh nhà nghiên cứu Lý học, Giám đốc Trung Tâm nghiên cứu Lý học Đông phương. Toàn bộ trả lời phỏng vấn của ông như sau:


Nhà nghiên cứu Lý học Đông phương, Nguyễn Vũ Tuấn Anh

Theo ông hiện tượng thôi miên và áp vong tìm mộ giống và khác nhau thế nào?
Theo tôi việc áp vong tìm mộ và thuật thôi miên tuy có vẻ gần giống về hình thức ban đầu ứng dụng hai phương pháp này, nhưng bản chất của chúng khác hẳn nhau.

Giống nhau: 
* Khi bắt đầu áp vong và Thôi miên thì người bị thôi miên và được Áp vong đều ở trạng thái không điều khiển được ý thức của mình.
Thuật thôi miên có thể thôi miên tập thể, hoặc cá nhân bởi một người sử dụng thuật này. Thuật Áp vong cũng có thể áp vong tập thể bởi một nhà ngoại cảm.
Khác biệt:
*Thuật thôi miên chỉ dừng lại ở sự tương tác với tiềm thức và ý thức của đối tượng được thôi miên qua những hành vi bất thường của họ. Đây là sự khác biệt căn bản, nhưng không thấy các bài báo và nhà thôi miên Nguyễn Mạnh Quân nói tới sự khác biệt này.
* Về nội dung thì nhà ngoại cảm giải thích là do vong của những người trong gia đình nhập vào những người được Áp vong. Tức là - với cách giải thích này - những người được vong nhập không chịu sự tương tác trực tiếp từ nhà ngoại cảm mà chịu sự tương tác của một hay nhóm vong tương ứng với từng nhóm gia đình khác nhau. Còn với thuật thôi miên thì chỉ chịu sự tương tác duy nhất bởi người thôi miên cho một hay nhiều người bị thôi miên.
* Những vong nhập vào từng gia đình có thể kể chuyện về mối quan hệ quá khứ của vong với người thân trong gia đình đó. Qua câu chuyện vong, những người trong gia đình có thể thẩm định đó chính là vong của người thân hay không. Đây là điểm khác biệt đầu tiên mặc dù hiện trạng không kiểm soát ý thức giống nhau của người bị vong nhập và người bị thôi miên. Người bị thôi miên không thể nói chuyện có tính riêng tư và trao đổi tình cảm với tư cách một người đã từng chung sống với người thân.
* Sau khi vong nhập thì vong đó có thể chỉ ra chỗ hài cốt mà họ đang nằm và có thể kiểm chứng bằng thực tế - Tức là đào chỗ đó lên có cốt hay không. Ở đây, tôi xin lưu ý là: Tôi chưa bàn đến vấn đề cốt tìm được đó có đúng là của người chết cần tìm không. Còn thuật thôi miên không thể hiện được điều này.
Quan điểm của tôi là: Khi nghiên cứu khoa học thì phải thừa nhận hiện tượng khách quan tồn tại. Thuật thôi miên là một thực tế khách quan đang tồn tại, được chứng tỏ bằng những người bị thôi miên không điều khiển được ý thức của mình. Áp vong cũng là một thực tế đang tồn tại và được chứng thực bằng một hệ quả khách quan là tìm được hài cốt sau đó.
Vấn đề còn lại để gọi là nghiên cứu khoa học đích thực chính là tìm hiểu cơ chế tương tác nào là nguyên nhân của những thực tại khách quan trên, hoặc một cách giải thích hợp lý phù hợp với tiêu chí khoa học cho một luận điểm nhân danh khoa học.

Người bị thôi miên và tự kỷ ám thị
Người tự kỷ ám thị và người thôi miên để người ta tự kỷ ám thị là hai vấn đề khác nhau. Có người không cần thôi miên, mà do họ tự kỷ ám thị. Ví dụ như người bị hoang tưởng hay tâm thần cũng rơi vào trường hợp tự kỷ ám thị. Sự tự thân tự kỷ ám thị phụ thuộc vào môi trường nhận thức. Thí dụ ở phương Đông, người tự kỷ ám thị có thể nhận là con Ngọc hoàng thượng đế. Nhưng ở phương Tây là người tự kỷ ám thỉ có thể nhận là cháu của chúa Jesu, bởi vì họ không biết Ngọc hoàng thượng đế là ai.
Tự kỷ ám thị bị ảnh hưởng bởi tri thức nền tảng của môi trường xã hội mà họ đang sống và họ tự cho là họ có khả năng gì đó, ở người tâm thần cũng có hiện tượng này. Cho nên chúng ta cũng không loại trừ có những người tự kỷ ám thị là họ có khả năng áp vong. Những người này có thể quảng cáo khả năng của họ, nhưng lại không ứng dụng được trên thực tế.
Trường hợp thôi miên thì cũng là một dạng tự kỷ ám thị , nhưng do tương tác trực tiếp của nhà thôi miên và lệ thuộc vào sự tác động này.

Ngoại cảm và người vong nhập tìm mộ.
Khi xảy ra hiện tượng được các nhà ngoại cảm gọi là "vong nhập" thì xuất hiện hiện tượng giống như hiện tượng bị thôi miên mà tôi đã nói ở trên. Nhưng người bị tự kỷ ám thị do thôi miên không bao giờ có khả năng chỉ được ở chỗ nào đó có bộ xương được coi là của vong người chết đã nhập. Việc chỉ ra chỗ vong nằm - có thể coi như một lời dự báo và lời dự báo này có thể kiểm chứng bằng cách đào lên có cốt hay không (Tôi nhắc lại là tôi chưa bàn đến việc cốt đó có đúng là của người chết đã hiện về báo hay không? Vấn đề này cần những biện pháp thẩm định sẽ nói sau). Điều này, những nhà ngoại cảm thực sự đã thể hiện trên thực tế nhiều năm qua ở Việt Nam. Còn những nhà ngoại cảm giả hiệu và những người tự kỷ ám thị tự cho mình có khả năng này và họ sẽ bị loại trừ ngay vì tính hiệu quả không có của họ. Bởi vậy, cá nhân tôi không tin rằng một Trung Tâm ngoại cảm giả hiệu có thể tồn tại lâu nếu như thực sự không có khả năng. Bản thân tôi đã ba lần chứng kiến hiện tượng ngoại cảm tìm mộ. Tôi xác định rằng hiện tượng người có khả năng áp vong và ngoại cảm tìm mộ là thực tế khách quan xuất hiện trong tiềm năng con người.
Bởi vậy, theo tôi không nên nhầm lẫn giữa ngoại cảm, áp vong tìm mộ với thuật thôi miên. Mặc dù về hình thức ban đầu của hai phương pháp có vẻ gần giống nhau , như tôi đã nói ở trên. Nhưng hiện tượng ngoại cảm , áp vong tìm mộ đưa ra một kết quả có thể kiểm chứng trên thực tế: Đào chỗ "vong " nằm có hài cốt hay không?!
Thí dụ như những nhà ngoại cảm có khả năng áp vong thực sự đã được khảo nghiệm như NNC Hoàng Thị Thiêm..vv.. kết quả của những lần áp vong ấy là đưa ra vị trí hài cốt có thể đào lên để kiểm chứng. Khi đào lên, cốt được xác định là xương người chứ không phải xương của động vật hay người ngoài hành tinh. Đây chính là sự khác biệt giữa ngoại cảm và thôi miên. Người bị thôi miên hoàn toàn không có khả năng này.

Ông định nghĩa thế nào là thôi miên?
Theo tôi, thôi miên là phương pháp ứng dụng đã xuất hiện ở những nền văn minh cổ xưa. Đó là một phương pháp có thể truyền đạt và người học rèn luyện để có khả năng tác động tới ý thức người bị thôi miên. Do phương pháp thôi miên được ứng dụng chủ động của nhà thôi miên, nên họ có thể ngưng, hoặc tiếp tục đối với người bị thôi miên.
Phương pháp thôi miên là một thực tế đang tồn tại, nhưng người ta cũng chỉ giải thích trên cơ sở thực tại khách quan đó và chưa xác định được cơ chế tương tác cụ thể như thế nào.

Ông định nghĩa thế nào là áp vong?
Về vấn đề này có những đối tượng liên quan cần tổng hợp để định nghĩa - khác với thôi miên - Đó là: Vong - người được áp vong và nhà ngoại cảm (Khác với thôi miên chỉ có hai đối tượng và tương tác một chiều). Nên tôi phải nói hơn là:

* Về khái niệm "Vong":
Cá nhân tôi không quan niệm "vong" là linh hồn người chết có hình thức giống hệt người đó khi còn sống hiện về và - hoặc là nhập vào người sống, hoặc hiển thị cho người sống nhìn thấy...vv....Về khái niệm linh hồn (vong) tôi có xu hướng quan niệm gần giống - hoặc chí ít cũng là một khái niệm để suy xét - với khái niệm "A Lại Gia Thức" theo minh triết Phật giáo.
* Về hiện tượng vong nhập:
Người được coi là bị vong nhập là người do tương tác của nhà ngoại cảm không kiểm soát được ý thức và thân xác bị chi phối của một dạng tồn tại gọi là vong.
* Về nhà ngoại cảm:
Là người có khả năng tự thân đặc biệt được phát triển trong cuộc sống của họ để có thể làm trung gian trong mối liên hệ giữa vong và người còn sống.
Trên cơ sở này tôi định nghĩa "áp vong" là:
Mối liên hệ giữa vong và người còn sống qua tác động của nhà ngoại cảm.

Ông vui lòng cho biết quan điểm của ông về thuật áp vong và thôi miên?Có nên sử dụng phương pháp áp vong để tìm mộ không, thưa Ông? 
Cá nhân tôi cũng rất tin vào thuật thôi miên và theo tôi nó có nguồn gốc từ những nền văn minh cổ xưa và không thuộc về tri thức của khoa học hiện đại. Hiện nay cũng chưa có một lý thuyết khoa học nào giải thích được cơ chế của thuật thôi miên. Thôi miên là một phương pháp ứng dụng tồn tại trên thực tế. Cho nên nó cũng tùy thuộc vào mục đích của người sử dụng.
Áp vong thì không phải là một phương pháp , mà nó phụ thuộc vào khả năng cá nhân xuất hiện tự nhiên của con người. Người có khả năng áp vong thực sự so với người tự nhận có khả năng áp vong để lừa bịp, hoặc tưởng mình có khả năng áp vong đều có thể kiểm chứng trên thực tế, mặc dù về hiện tượng chưa giải thích được cơ chế tương tác của nó. Bởi vậy, nói những nhà ngoại cảm dùng khả năng của mình đi lừa bịp là rất khó xảy ra.
Tất nhiên với những kẻ tự cho mình là có khả năng áp vong và mang tính lừa bịp thì đây là việc của luật pháp không nằm trong phạm vi ý kiến của tôi.

Áp vong tìm mộ là điều cần thiết
Quan điểm của tôi là trên thế giới này - ngoài việc xử dụng phương pháp ngoại cảm áp vong - thì tôi chưa thấy một phương pháp khoa học, hoặc một phương tiện kỹ thuật nào có khả năng chỉ ra một vị trí mà dưới đó có một bộ xương, ngoài cách áp vong tìm mộ của các nhà ngoại cảm thực sự. Bởi vậy, trên thực tế cho thấy sự áp vong tìm mộ là điều cần thiết.
Còn việc bộ xương tìm được có đúng là của người đã mất cần tìm hay không - như vấn đề được đặt ra gần đây - thì có nhiều phương pháp. Tôi cho rằng việc kiểm tra ADN là cần thiết, nhưng không phải là phương pháp duy nhất đúng có thể kiểm chứng. Nó chỉ cần thiết trong trường hợp mộ chôn tập thể, xương cốt lẫn vào nhau và cần phân biệt. Tôi cho rằng: Chính khả năng dự báo của những nhà ngoại cảm với những sự kiện liên quan trong quá trình tìm mộ và sự xác định có tính tiên tri những di vật khi đào được mộ đủ để xác minh tính đúng đắn và chính xác của việc áp vong tìm mộ.
Khả năng tiên tri là một trong những tiêu chí để xác định phương pháp hoặc một lý thuyết khoa học.

Xin cảm ơn ông!
Hoàng Dung

Read More
      edit

Chủ Nhật, 27 tháng 4, 2014

Published tháng 4 27, 2014 by ana03 with 0 comment

Có Phải Người Trì Chú Đại Bi Thường Bị Phần Âm Theo Điều Khiển Mọi Hành Động Không?

Thưa Sư, con được một người bạn hướng dẫn cho trì Chú Đại Bi trong lúc con thấy bế tắc không lối thoát. Tuy nhiên, con đọc trên một diễn đàn thì con có thấy nói có một số người khi trì chú đại bi bị người âm theo và điều khiển một số hành động. Xin Sư cho con hỏi có phải thật thế không ạ và những trường hợp nào thì bị thế, khi bị thì xử lý thế nào ạ? Ngoài ra, con cũng nghe nói việc trì hay tụng kinh muốn được kết quả, thành tựu viên mãn phải có một vị thầy chú nguyện gia trì minh chứng. Vậy với những Phật tử bình thường như con có được trì chú không ạ và làm sao chúng con biết được kinh hay chú nào là thích hợp với mình. Con xin thành thật cảm ơn.


Đáp: Trước đây trong vô lượng kiếp, Ngài Quán Thế Âm Bồ Tát được Thiên Quang Vương Tĩnh Trú Như-lai diễn pháp Ðại-bi Thần Chú cho nghe, lấy bàn tay sắc vàng xoa đầu, khiến Ngài, khi nghe xong liền chứng được quả vị Bồ-tát bậc Bát-địa. Ngài liền sanh tâm đại hoan hỷ rồi lập tức phát nguyện lớn như sau: “Nếu tôi có thể làm lợi ích hết thảy chúng sanh, thì xin cho tôi có ngay ngàn tay và ngàn mắt.” Phát nguyện xong, hốt nhiên trái đất chấn động, hào quang phát ra từ chư Phật mười phương chiếu sáng thân Ngài, rồi ngàn tay và ngàn mắt tức khắc trang nghiêm thân tướng của Ngài. Tay thì có thể nâng đỡ, mắt thì có khả năng chiếu soi. Ngàn tay và ngàn mắt tượng trưng cho vô số thần thông và trí huệ.

Ý nghĩa của đại bi: Căn cứ câu: “Bi năng bạt khổ,” bất cứ ai gặp phải mọi cảnh khổ nạn, nếu thành tâm tụng chú Ðại-bi đều có thể được bình an, chuyển hung thành cát. Ngài Quán Thế Âm bạch Phật rằng: “Nếu như chúng sanh trì tụng Ðại-bi chú mà không được mãn nguyện, thì xin thề không thành chánh giác, trừ phi nguyện ước của họ bất thiện hay không thành tâm trì tụng.”

Trì tụng Đại-bi chú không những được tự tại, mà các điều cầu mong còn được thành tựu; có thể tránh được khổ ách tai nạn và được vui sướng an lạc; vượt qua mọi hiểm nghèo, tới chỗ bình an vô sự. Làm sao có thể xa lìa khổ ách? Phải tụng Đại-bi chú. Làm sao thoát khỏi hiểm nghèo? Phải trì tụng Ðại-bi chú. Chớ có coi Đại-bi chú là tầm thường hay đơn giản. Quý Phật tử được nghe biết tên của thần chú lại còn được trì tụng thần chú với một lòng chí thành, thật là một cơ hội trăm ngàn vạn kiếp mới có một lần, rồi lại được thiện tri thức chỉ dẫn, cách thức đọc tụng, thọ trì, tu trì nữa. Lành thay cho quý Phật tử!

Nói về người ở cõi âm nhập xuất

Theo Sư thì người cõi âm là chúng sanh ở thế giới không hình bóng, người không phải người, không có mang thân, cũng là thân trung ấm, họ có những cuộc sống rất ngắn ngủi (trong một sát na), lúc nào cũng chờ đợi một hành trình đi theo nghiệp duyên mà tái sanh vào thế giới khác.

Theo giáo sư Minh Chi (Học Viện Phật giáo Việt Nam tại Tp.Hồ Chí minh) thì người cõi âm có nhân duyên tiền kiếp đặc biệt khiến cho có sự giao cảm giữa người sống ở cõi người với những người đã chết, nhưng hiện đang sống ở một cõi sống khác, cao cấp hơn cõi người. Vì là thuộc một cõi sống cao cấp hơn, có quyền năng hơn chúng ta rất nhiều, cho nên họ có thể đến với chúng ta nhưng chúng ta không thể đến với họ đuợc. Họ có thể bày cho chúng ta cách thức làm như thế nào để họ giao tiếp với chúng ta. Nhưng đây là những trường hợp rất đặc biệt, giữa hai bên phải có những ân tình sâu sắc.

Tôi không thể tin là có một cõi sống đặc biệt dành riêng cho những người đã chết. Nghĩa là có các cõi sống khác nhau, nhưng không có một cõi nào của người đã chết cả. Không thể có cõi sống dành cho những người chết, đó là một mâu thuẫn ngay trong bản thân từ ngữ, một chuyện tưởng tượng, hoang đường. Đạo Phật công nhận có cõi sống trung ấm, nhưng đó là một cõi sống tạm thời, trung gian. Thân trung ấm cũng là một loại thân vật chất, tuy rằng đó là loại vật chất đặc biệt mà con mắt thịt của cõi nguời không thể thấy được. Nhưng đã là thân vật chất thì không thể tồn tại lâu được, nó cũng phải biến đổi và hoại diệt.

Theo các ý tưởng như trên, chúng ta đã biết chúng sanh ở cõi âm, chỉ có sự chờ đợi tái sanh theo nghiệp duyên, không có việc tái sanh bằng cách dựa dẫm thâm nhập vào người khác. Người tụng chú Đại bi mà bị người cõi âm dựa dẫm thâm nhập, là vì người đó phát tâm trì tụng mà không có Thầy hướng dẫn, không có phương pháp tu vững vàng nên không đạt chánh niệm, không nhất quán với thời tụng kinh chú Đại bi, nên thiên ma quấy nhiễu trở thành loạn tâm loạn ý; hiện tượng nầy lâu ngày trở thành một thói quen, đến giờ tụng chú Đại bi là có thiên ma quấy nhiễu, đối với người ít hiểu biết Phật pháp, người thế gian thì cho cho rằng người cõi âm hay ” ơn trên, bề trên” xâm nhập, xưng Phật xưng trời với thế nhân là thế.

Lời khuyên cuối cùng: Hành giả tụng chú đại bi mà bị vướng mắc thiên ma quấy nhiễu (thiên ma lúc nào cũng tiên tri, tiên đoán, giả bộ giỏi hơn Phật) thì ngưng trì tụng chú Đại bi một thời gian cho đến khi nào không còn thiên ma quấy nhiễu thì tiếp tục trì tụng.

Người Phật tử phát tâm trì tụng thần chú Đại bi, trước nhất vẫn phải cầu Thầy hướng dẫn, trợ duyên, khai đường mở lối cho Phật tử trì tụng thần chú đến khi thuần thục, chánh niệm, sẽ không bị thiên ma quấy nhiễu.

HT Thích Giác Quang
Read More
      edit

Thứ Ba, 15 tháng 4, 2014

Published tháng 4 15, 2014 by ana03 with 0 comment

Thờ Thần tài có cần thờ ai cụ thể không?

Có, phải cụ thể là thờ ai làm thần tài của nhà mình, không thờ chung chung được. Cũng như thờ Đức Phật thì phải là Đức Phật nào, thờ Thần linh thì phải Thần linh của nhà nào, căn hộ nào, thờ Gia tiên thì phải gia tiên dòng họ nào hoặc tên Ông Bà cụ kỵ nào. Trong bát hương thờ Thần tài phải có Dị hiệu ghi rõ như vậy.

Hiện nay có tình trạng nhiều nhà lập ban thờ Thần tài, nhưng không rõ thờ ai, thậm trí không biết có Thần về hay không. Qua kiểm tra nhiều ban thờ Thần tài ở các nhà và các cửa hàng tác giả thấy rất ít ban có Thần về. Thậm trí không ít ban thấy có các “Thần” mặc quần đùi áo may ô!? Có lẽ đấy là những vong hồn phiêu bạt ngoài đường phố, thấy có lộc thì vào xơi? Thế thì hy vọng gì ở họ được? Cho nên thờ ai thì phải có tên hiệu cụ thể.

1) Nên thờ ai làm Thần tài?

Theo tác giả thì có thể thờ một trong các vị sau đây làm Thần tài cho gia chủ:

- Triệu Công Minh, hay Triệu huyền Đàn. Đây là vị Thần mà người xưa vốn tôn thờ là Thần tài. Ngài có dung mạo oai phong, có khả năng trừ ôn diệt ác, nhờ thờ Ngài mà có được tài. Thường các nhà quan võ hay thờ Ngài làm Thần tài.

- Quan Vân Trường. Ngài là một danh nhân nổi tiếng thời Tam Quốc, nhân vật mà nhiều người biết trong truyện Tam Quốc diến nghĩa. Nhiều nhà thờ Ngài như một thần Tài. Những nhà có truyền thống võ bị thờ Ngài rất tốt. Người ta thờ Ngài còn vì những mục đích khác ngoài cầu tài.

- Tài Bạch Tinh Quân, còn gọi là Thái Bạch Tinh Quân. Tương truyền ông là Kim Thần trên Trời, được nhà Trời giao chuyên quản kim ngân, tiền bạc của nhà Trời. Ông có diện mạo trông phúc hậu. Những nhà làm nghề buôn bán thường thờ ngài.

- Ông Lộc. Là một trong 3 vị Tam đa Phúc Lộc Thọ. Tương truyền ông có tên là Đông Phương Sóc, ngũ đại đồng đường, lộc đủ nuôi 5 đời ở cùng một nhà ăn cùng một mâm. Các nhà làm nghề kinh doanh thường thờ Ngài. (Nếu có thờ cả 3 vị Tam đa thì cũng chỉ có ông Lộc là giúp mang tài về mà thôi).

- Bà Chúa Kho. Bà là người có công tổ chức sản xuất, tích trữ lương thực, cai quản kho lương vào thời kỳ chiến trận sông Như Nguyệt. Bà mất năm 1077 trong cuộc kháng chiến chống quân Tống ở phương Bắc. Nhà vua phong Bà là Phúc Thần. Dân dựng đền thờ Bà ở núi Kho và vẫn quen gọi Bà là Bà Chúa Kho. Đền thờ Bà còn có ở một số địa phương khác nữa. Người buôn bán kinh doanh chân chính thờ Bà làm Thần tài rất tốt.

- Thổ Thần tại gia. Nhà có đất rộng thì có thể lập một cây hương thờ Thổ Thần trong vườn đất nhà mình. Ngài là Thần được giao quản khu đất nhà ta, nên thờ Ngài để được trợ giúp về Tài vận và sự an lành cũng rất hiệu quả.

- Thần linh+ Gia tiên. Thành tâm thờ Thần linh Gia tiên trên bàn thờ tại gia sẽ được trợ giúp về Tài vận và nhiều lĩnh vực khác của cuộc sống. Cho nên bàn thờ Thần linh Gia tiên cần phải đặt tại góc trụ tài trong phòng. Và việc thờ cúng phải luôn thành tâm.

2) Khi lập ban thờ Thần Tài thì cần tránh mấy quan niệm sai sau đây:

- Thờ không rõ Thần nào;

- Thờ Thần Tài và Thổ địa chung trong một ban;

- Đặt ban thờ Thần tài dưới đất mà không đặt trên cao;

- Đặt ban thờ Thần tài ngay trước cửa ra vào mà không đặt vào góc tụ tài.

- Trong ban thờ Thần tài đặt quá nhiều thứ cầu tài khác gây lộn xộn.

- Thắp đèn đỏ hoặc đèn sáng trong ban thờ.

3) Ban thờ Thần tài cần đạt các yêu cầu sau đây:

- Có bát hương với Dị hiệu ghi rõ thờ ai làm Thần tài cho ta;

- Không thờ chung với Thổ địa;

- Ban thờ Thần tài, cũng giống như ban thờ Thần linh Gia tiên, cần đặt vào góc tụ tài và phải có tọa hướng hợp với mệnh chủ nhà. Góc tụ tài xác định theo từng phòng theo sơ đồ

- Bày biện đơn giản, có thể đặt mấy thứ sau đây: Tượng Thần tài hoặc Bài vị, bát hương, lọ hoa, lọ cắm hương, chén nước, đĩa bày đồ lễ chay. Cạnh ban thờ có thể đặt một Tỳ hưu cầu tài, hoặc 1 cóc ba chân, hoặc 1 quả cầu thu tài. Tỳ hưu hoặc cóc 3 chân đặt trông về đâu cũng được, tốt nhất là trông ra cửa đi hoặc cửa sổ. Chỉ nên đặt 1 thứ thôi, đặt nhiều là tham vọng đấy!. Bên thành ban thờ có thể dán Phù cầu tài để trợ giúp thêm. Dán trong hay ngoài ban thờ, hoặc dán trên tường bên cạnh ban thờ đều được.

- Không thắp đèn trong ban thờ, tối kỵ là đèn đỏ. Khi cúng có thể thắp 1 đèn dầu hoặc một ngọn nến nhỏ lửa.

- Ban thờ tối kỵ để nắng và gió thổi vào, tránh đặt gần cửa ra vào hoặc trên lối đi lại làm cho ban thờ sẽ luôn bị xáo động.

(GS TS Nguyễn Tiến Đích)
Read More
      edit
Published tháng 4 15, 2014 by ana03 with 0 comment

THẾ NÀO LÀ ĐỦ LỄ

Người đời nói rắng khi cúng lễ thì đồ lễ phải đầy đủ mới linh. Xin Giáo sư cho biết có đúng vậy không? Nếu vậy thì thế nào mới là đủ lễ?

Trả lới: Ta cúng lễ là cúng Trời Đất và Người. Người đây là người trần thắp hương và người âm mà ta thờ cúng (Đức Phật, các Tiên Thánh, Thần linh, Gia tiên…). Tức là khi cúng, ta đã kết hợp Thiên Địa Nhân thành hợp nhất. Thiên Địa Nhân hợp nhất luôn là yếu tố đảm bảo phát triển bền vững. Vì vậy khi cúng ta phải có đủ 3 thứ sau đây trên bàn thờ thì mới thành lễ: Lửa, Nước và Hương.

Vì sao phải đủ 3 thứ trên?

- Lửa: chỉ có ở trên Trời mới có lửa. Mặt trời tắt thì Trái đất đóng băng, không còn sự sống. Sấm sét cũng chỉ có trên Trời. Vậy Lửa là Thiên (T).

- Nước: Chỉ có Trái đất mới có nước. Các hành tinh khác trong hệ Mặt trời đều không có nước. Vậy Nước là Địa (Đ).

- Hương: là người châm hương, người làm ra hương. Vậy Hương là Nhân (N).

Có 3 thứ trên là có T+Đ+N. Cộng với tấm lòng thành là đủ lễ rồi. Đồ lễ nhiều ít, thậm chí không có cũng không quan trọng. Thần linh và gia tiên không đòi cái đó. Nhưng tấm lòng thành thì không thể thiếu được. Vì vậy nếu tâm ta chưa tịnh, lòng ta chưa thành thì chưa vội thắp hương. Vợ chồng vừa mới cãi nhau xong, hay vừa quát mắng con xong thì chưa nên thắp hương cúng lễ vội. Đi lễ chùa, đền miếu cũng vậy, cần chuấn bị cho ta một tâm hồn thanh tịnh, một tấm lòng thành rồi hãy đi.

Nói như trên không có nghĩa là ta không cần đồ lễ. Nhưng không nên quá vị vào đồ lễ nhiều hay ít. Nhiều ít đều được, nhưng phải đủ loại hình tùy theo lễ (thí dụ: lễ Phật chỉ có lễ chay, lễ Thánh Thần, Gia tiên có thể lễ chay hoặc lễ mặn v.v…). Đồ lễ phải tươi thơm vì người cõi âm chỉ hưởng cái hương của đồ lễ. Không được đưa lên bàn thờ đồ lễ đã ôi thiu, trái cây đã héo, hoa đã úa tàn.

Thiếu một trong 3 thứ T Đ N nêu trên thì không thành lễ. Thực tế cho thấy, hầu hết mọi người khi cúng đều có thắp hương. Tỷ lệ quên thắp hương chỉ khoảng 1/1000. Nhưng thiếu nước hoặc thiếu lửa thì nhiều. Tỷ lệ này có đến 50% các nhà. Rượu không phải là nước, nên không thay nước được. Nước phải là nước sạch tự nhiên (như nước máy, nước mưa, nước giếng, nước sông hồ…). Không nhất thiết phải là nước đun sôi, nhưng không được dùng nước ôi thiu có mùi hoặc nước bị ô nhiễm. Lửa phải châm được hương mới là lửa. Đèn điện đỏ không thay lửa được vì không châm được hương. Cũng không dùng lửa quá nhiều vì người âm sợ nóng. Có thể dùng một ngọn nến nhỏ hoặc một đèn dầu nhỏ lửa. Không thắp quá nhiều nến hoặc nhiều đèn dầu trên bàn thờ. Trên bàn thờ không nên thắp đèn đỏ, và không đặt đèn chiếu sáng ngay phía trên bàn thờ. Bàn thờ nên tối và mát.

(GS TS Nguyễn Tiến Đích)
Read More
      edit

Thứ Năm, 10 tháng 4, 2014

Published tháng 4 10, 2014 by ana03 with 0 comment

Cúng giỗ cách nào là hợp lý nhất?

HỎI: Tôi thấy: 1-Có nhà đến ngày giỗ, chỉ chưng hoa trái lên bàn thờ, thắp nhang khấn vái cầu nguyện cho ông bà siêu thoát. Còn con cháu họp mặt và quây quần dùng bữa cơm gia đình, không có bày mâm cỗ cúng kiếng. 2-Có nhà thì tổ chức cỗ bàn cúng kiếng quy mô. Sau khi cúng xong thì ăn nhậu thỏa thích, có khi anh em thân tộc còn gây gổ, đánh nhau làm mất tình cảm bà con dòng tộc. 3-Có nhà thì không cúng đúng vào ngày giỗ mà chọn ngày Chủ nhật để con cháu sum vầy. 4-Có nhà thì phân công mỗi người con làm giỗ một năm, khách ai thì nấy mời. Vậy đối với người Phật tử, cách cúng giỗ nào là hợp lý nhất?


ĐÁP:

Lễ phẩm cúng giỗ biểu trưng cho tấm lòng hiếu thuận của con cháu, lễ bạc mà lòng thành, ngoài hoa trái hương đèn thì nên có mâm cỗ. Theo chúng tôi, nhà (1) cúng giỗ mà chỉ có hương hoa, không có mâm cỗ dâng cúng là chưa đủ lễ. Nhà (2) có điều kiện cúng kiếng lớn thì quá tốt. Tuy nhiên, là Phật tử thì nên lưu ý không sát hại sinh vật, không rượu chè say sưa. Nhà (3) chọn ngày Chủ nhật để cúng giỗ cho con cháu được sum vầy đầy đủ, trong tinh thần phương tiện cũng không có gì trở ngại. Tuy nhiên, cần nhắc lại chính xác ngày giỗ cho con cháu nghe để ghi nhớ. Nhà (4) đông anh em nên phân công mỗi người làm giỗ một năm cũng rất hay.

Đối với người Phật tử, đến ngày giỗ thì cũng tùy theo từng hoàn cảnh cụ thể, tùy duyên mà tưởng niệm, cúng kiếng. Nếu hội đủ duyên lành, nên tập trung con cháu tụng một thời kinh cầu siêu, dâng cúng hương hoa và cỗ chay, làm phước thiện để hồi hướng công đức, bữa cơm gia đình cần thân mật và ấm cúng, thiết nghĩ nên nhắc lại lược sử của ông (bà), cha (mẹ) lúc sinh tiền để con cháu ghi nhớ và noi gương.

Theo: Giacngo
Read More
      edit

Thứ Năm, 3 tháng 4, 2014

Published tháng 4 03, 2014 by ana03 with 0 comment

Hỏi đáp về niệm phật

Hỏi: Niệm Phật không chỉ là dùng miệng niệm mà phải chú tâm đúng không?

Ðáp: Có nhiều người miệng tuy niệm Phật nhưng chẳng để tâm vào đó, trong lòng toàn là suy xằng nghĩ loạn. Niệm như vậy cũng vô dụng. Miệng niệm Phật thì tâm phải tưởng Phật, tâm khẩu nhất như. Ngoại trừ một câu niệm Phật ra không còn nghĩ đến gì khác nữa, không còn có ý niệm nào khác khởi lên. Có vậy mới gọi là “Nhất Tâm Bất Loạn”, từ đó mới dễ thành công.

Hỏi: Như vậy chẳng phải là khó lắm ư?

Ðáp: Xem kìa! Một mặt quý vị chê niệm Phật quá dễ dàng, một mặt lại sợ nó quá khó. Thật sự ra, một pháp Niệm Phật đây, bảo là dễ thì nó cực dễ, bảo là khó thì nó cũng cực khó.

Chẳng qua là chẳng cần biết là khó hay dễ, chỉ đáng kể mình có thể bền lòng niệm được nhiều hay không. Lâu ngày chầy tháng, tự nhiên tâm chẳng loạn nữa. Lời tục thường nói: “Trên đời không có việc gì khó, chỉ sợ tâm chẳng chuyên”, chính là ý này.

Lại có một cách niệm Phật như sau: mỗi lúc niệm Phật, mỗi chữ phải phát xuất từ trong tâm. Trong tâm tưởng thật rõ ràng, miệng niệm cho thật rõ ràng, tai nghe thật rõ ràng. Mỗi một chữ phát xuất từ trong tâm, thấu qua tai lọt vào tâm, một chữ cũng chẳng để lọt mất. Tu tập lâu dài như vậy, tâm tự nhiên chẳng còn tán loạn. Ðấy chính là một phương pháp khẩn yếu bậc nhất, ngàn vạn phần chớ quên.

Hỏi: Nên niệm Phật vào lúc nào?

Ðáp: Nên niệm Phật vào hai thời sáng tối, lập một công khóa nhất định, hạn định số câu niệm Phật nhiều ít: hoặc là mấy trăm câu, mấy ngàn câu, tùy theo hoàn cảnh mỗi người mà định số. Chẳng cần biết là rảnh hay bận, không niệm đủ số đó không được. Còn ngoài ra thì chẳng cần biết là lúc nào, đang ở chỗ nào đều niệm được cả. Càng niệm nhiều càng tốt. Thời gian niệm càng lâu càng hay.

Hỏi: Vừa làm việc vừa niệm Phật được không?

Ðáp: Lúc đang vác củi, gánh nước cũng niệm Phật được. Lúc đang cọ nồi, rửa chén cũng niệm Phật được. Lúc cày bừa, cuốc xới, cắt cứa cũng niệm Phật được. Chẳng luận là đi, ngồi, ngủ nghê, thậm chí lúc đang đại tiểu tiện cũng đều có thể niệm Phật. Nói chung, trừ lúc phải dùng trí óc làm việc, ngoài ra thì dù đang làm gì cũng chẳng trở ngại việc niệm Phật cả.

Hỏi: Nên niệm Phật lớn tiếng hay là niệm nhỏ tiếng?

Ðáp: Niệm lớn tiếng cũng tốt, niệm nhỏ tiếng cũng hay. Miệng không niệm nhưng tâm thầm niệm cũng tốt. Chỉ trừ lúc đang nằm trên giường hay đang ở chỗ không sạch sẽ thì nên thầm niệm trong tâm, chẳng được niệm ra tiếng. Niệm ra tiếng là không cung kính. Nhưng lúc gặp chuyện nguy cấp, chẳng cần biết là đang ở chỗ nào, cứ việc niệm ra tiếng.

Hỏi: Học Phật thì nên thờ hình Phật nào?

Ðáp: Thờ một mình đức A Di Ðà Phật hoặc tượng Tây Phương Tam Thánh đều được (A Di Ðà Phật và hai vị Bồ Tát Quán Thế Âm, Ðại Thế Chí gọi là Tây Phương Tam Thánh).

Hỏi: Nên thờ tượng Phật ở chỗ nào?

Ðáp: Nếu có phòng trống, dành riêng một phòng thờ Phật là tốt nhất. Nếu không có, thờ Phật ngay trong phòng mình ở cũng được. Nói chung là phải chọn nơi sạch sẽ. Trước tượng treo màn vải vàng, lúc không niệm Phật, buông màn xuống. Làm vậy để khỏi đến nỗi khinh nhờn. Tốt nhất là để tượng Phật hướng mặt về Ðông, người niệm Phật đối trước tượng Phật, hướng mặt về Tây. Nếu chẳng thể làm vậy được thì thờ tượng ở phương nào thuận tiện cũng được.

Hỏi: Nếu không có chỗ nào thuận tiện, không thờ Phật có được không?

Ðáp: Nếu thực sự không có chỗ nào thuận tiện, miễn sao tâm thành thì không thờ tượng Phật cũng được. Lúc niệm Phật hướng về Tây là ổn.

Hỏi: Nên dùng những thứ gì để cúng dường Phật?

Ðáp: Thông thường dùng hương, hoa, đèn, nước trong, trái cây v.v... Nếu không lo liệu được, thiếu một vài thứ hoặc không có thứ gì hết cũng xong. Nhưng tuyệt đối chẳng được cúng rượu hoặc đồ mặn cũng như đốt giấy tiền, vàng mã trước Phật.

Hỏi: Nên hành lễ trước Phật như thế nào?

Ðáp: Tùy ý. Hoặc là dập đầu lạy, hoặc là vái, hoặc khom mình, hoặc chắp tay; nhưng dập đầu lễ bái là cung kính nhất, có thể tiêu tội, tăng phước.

Hỏi: Lúc niệm Phật có nên quỳ trước mặt Phật không?

Ðáp: Chẳng nhất định. Quỳ niệm, đứng niệm, vừa đi vừa niệm đều được. Cốt yếu là phải thành tâm. Quỳ niệm rất tốt mà ngồi niệm cũng hay.

Hỏi: Cụ nói hai thời niệm Phật sáng tối, phải lập một khóa trình, phiền cụ lập cho tôi một khóa trình có phải là hay hơn không?

Ðáp: Khóa trình vốn là dựa theo thời gian, sức lực của chính mỗi người mà quy định. Ngài đã cầu tôi thì tốt nhất là tôi soạn ra một nghi thức thật đơn giản cho ngài vậy.

Nếu như ngài có sức thì có thể hành trì thêm nhiều hơn, có thể thêm vào kinh Di Ðà, chú Vãng Sanh, kệ Tán Phật, văn Ðại Phát Nguyện. Những bài kinh ấy trong sách Thiền Môn Nhật Tụng có chép đủ cả, những chỗ lưu thông kinh Phật đều có. Khóa sáng thì lúc vừa ngủ dậy, khóa tối thì trước khi đi ngủ, rửa tay, súc miệng, đến trước tượng Phật, thắp nhang, dâng nước, chắp tay cung kính, rồi quỳ hoặc đứng, hoặc ngồi xếp bằng, dùng tâm chí thành niệm theo thứ tự sau:

- Nam mô thập phương Thường Trụ Tam Bảo (niệm một lần, lễ một lạy).

- Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật (niệm một lần, lễ một lạy).

- Nam mô Tây Phương Cực Lạc thế giới đại từ đại bi A Di Ðà Phật (niệm một lần, lễ một lạy).

- Nam mô A Di Ðà Phật (trăm câu, ngàn câu, hai, ba ngàn câu, càng nhiều càng hay. Tùy mỗi người rảnh hay bận mà định số, nhưng phải từ ít tăng lên nhiều, chẳng được từ nhiều giảm ít đi. Vô luận niệm nhiều hay ít, chẳng cần phải lạy).

- Nam mô Quán Thế Âm Bồ Tát (niệm một tiếng, lễ một lạy, hoặc niệm ba lần, lễ ba lạy).

- Nam mô Ðại Thế Chí Bồ Tát (như trên).

- Nam mô Thanh Tịnh Ðại Hải Chúng Bồ Tát (như trên).
- Nguyện đem công đức này
Trang nghiêm Phật Tịnh Ðộ.
Trên đền bốn ân nặng.
Dưới cứu khổ tam đồ
Nếu có ai thấy nghe.
Ðều phát lòng Bồ Ðề,
Hết một báo thân này,
Cùng sanh cõi Cực Lạc.
(lễ ba lạy)

Hỏi: Khóa trình này rất hay, xin giảng thêm về chữ “thập phương Tam Bảo”.

Ðáp: Tám phương, phương trên và phương dưới gọi là mười phương. Phật, Pháp, Tăng là Tam Bảo. Phật là Giáo Chủ. Pháp là kinh điển để tu nhân chứng quả do Ðức Phật giảng. Tăng là những pháp tử chiếu theo lời Phật dạy tu hành, đã chứng thánh quả Bồ Tát, Duyên Giác, Thanh Văn, và các cao tăng đạo cao, đức trọng, hoằng pháp lợi sanh.

Phật, Pháp, Tăng đều gọi là Bảo (quý báu) vì có thể phát sanh, tăng trưởng pháp thân, huệ mạng của hết thảy chúng sanh, giống như của báu trong thế gian có khả năng nuôi sống thân mạng của con người. Phải hiểu rằng khi niệm Tam Bảo chính là biểu thị mình hoàn toàn lấy Phật, kinh điển Phật nói và các vị Bồ Tát, cao tăng tu hành đúng theo lời Phật làm thầy của mình. Mình từ những vị đó quy hướng trở thành tín đồ Phật giáo.

Hỏi: Xin hỏi vì sao phải niệm Phật Thích Ca?

Ðáp: Là vì pháp môn Niệm Phật do chính Ngài dạy cho chúng ta. Niệm Phật lạy Ngài chính là chẳng dám quên bỏ nguồn gốc vậy.

Hỏi: Tại sao lại còn phải niệm Quán Thế Âm và Ðại Thế Chí Bồ Tát?

Ðáp: Vì người niệm Phật lúc lâm chung, hai vị Bồ Tát này cùng với đức A Di Ðà Phật đồng thời đến tiếp dẫn về Tây Phương. Vì thế niệm Phật xong phải niệm danh hiệu và lễ bái hai vị Bồ Tát này.

Hỏi: Thanh Tịnh Ðại Hải Chúng Bồ Tát là những vị Bồ Tát nào?

Ðáp: Thanh Tịnh Ðại Hải Chúng Bồ Tát là tất cả những vị Bồ Tát trong thế giới Cực Lạc đều rất thanh tịnh. Ba chữ Ðại Hải Chúng ngụ ý các vị Bồ Tát ấy nhiều như nước biển. Sớm muộn gì ta cũng sẽ làm bầu bạn với các vị Bồ Tát ấy, vì thế cần phải niệm niệm lễ bái họ.

Hỏi: Kệ Hồi Hướng có tác dụng gì?

Ðáp: Công dụng của bài kệ Hồi Hướng rất lớn. Người tu hành bất luận là niệm Phật, hay niệm kinh, niệm xong, nhất định phải niệm kệ Hồi Hướng một lượt. Hồi Hướng có nghĩa là gom về, tức là một phương pháp đem công đức niệm Phật, niệm kinh gom về một nơi. Gom về nơi nào? Gom về việc cầu sanh về Tây Phương Cực Lạc thế giới!

Chẳng riêng gì niệm Phật, niệm kinh mới hồi hướng về Cực Lạc thế giới, mà bất luận làm việc lành nào cũng đều phải hồi hướng về Cực Lạc thế giới. Càng tích thêm được một phần công đức thì hy vọng được vãng sanh càng tăng thêm một phần. Nếu làm công đức nhưng chẳng hồi hướng cầu sanh về Cực Lạc thế giới thì chỉ sợ đời sau chỉ được hưởng báo ứng trong cõi trời, cõi người, vẫn cứ luân hồi trong lục đạo, chẳng được giải thoát. Phước báo càng lớn, càng dễ tạo tội, nên kiếp kế tiếp đó càng đáng sợ hơn.

Vì thế, người học Phật phải nên đem hết thảy công đức hồi hướng vãng sanh Tây Phương thì lúc lâm chung mới có hy vọng được sanh về Tây Phương Cực Lạc thế giới. Nhưng niệm bài kệ Hồi Hướng cũng giống như niệm Phật, phải từng chữ, từng câu phát xuất từ nội tâm, chẳng thể niệm xuông nơi cửa miệng được.

Hỏi: Xin cụ giảng qua ý nghĩa từng câu trong bài kệ Hồi Hướng.

Ðáp: Câu thứ nhất và câu thứ hai nghĩa là ta đem công đức niệm Phật hỗ trợ cõi Tịnh Ðộ của Ðức Phật A Di Ðà khiến cho nó càng thêm tốt đẹp phi thường. Câu thứ ba nghĩa là lại đem công đức ấy trên là báo đáp bốn tầng ân đức: cha, mẹ, sư trưởng và đức Phật. Câu thứ bốn nghĩa là dưới thì dùng công đức cứu vớt những chúng sanh khổ não trong ba đường ác: súc sanh, địa ngục, ngạ quỷ. Câu thứ năm và thứ sáu nghĩa là nếu có ai thấy, nghe người đang niệm Phật, niệm kinh sẽ đều phát khởi tấm lòng trên cầu Phật Quả, dưới độ chúng sanh. Câu thứ bảy và thứ tám nghĩa là sau khi cái thân báo ứng này đã hoàn toàn chấm dứt thì mọi người sẽ cùng vãng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới. Giải thích theo từng câu văn thì ý nghĩa của bài kệ Hồi Hướng là như vậy.

Nói chung, tám câu kệ này lại có hai tầng ý nghĩa lớn.

Tầng thứ nhất là: Chúng ta niệm Phật là để cầu sanh về Tây Phương, chứ chẳng phải vì cầu công danh, phú quý hay hết thảy những điều tốt đẹp của thế gian.

Tầng thứ hai là: Chúng ta niệm Phật là để cứu độ hết thảy chúng sanh thoát ly khổ hải, chứ chẳng phải vì riêng bản thân mình. Ðã hiểu rõ tầng ý nghĩa thứ hai này rồi thì bất luận là niệm Phật, niệm kinh hay làm bất cứ điều lành gì đều luôn giữ tấm lòng như thế, hồi hướng như thế. Có như vậy mới là người học Phật phát Bồ Ðề tâm chân chánh.

Hỏi: Khóa trình cụ vừa lập ở trên cố nhiên rất đơn giản, nhưng có người quá đỗi bận rộn, không lúc nào rảnh thì làm sao thực hiện được?

Ðáp: Vẫn có biện pháp. Chẳng luận là đang ở đâu hay bất cứ lúc nào (niệm vào lúc sáng sớm tốt nhất), hướng mặt về Tây, lễ ba lạy, liền niệm sáu chữ “Nam Mô A Di Ðà Phật” cho đến hết một hơi. Hơi dài thì niệm một hơi mươi câu càng hay. Hơi ngắn thì một hơi niệm vài câu cũng được. Tổng cộng niệm đủ mười hơi. Rồi niệm kệ Hồi Hướng. Niệm xong, hướng về Tây lạy ba lạy là xong. Ðây gọi là pháp Thập Niệm. Người rất bận mỗi ngày thành tâm chiếu theo phương pháp này mà niệm thì tương lai cũng có thể được sanh về Tây phương Cực Lạc thế giới, là vì Ðức Phật A Di Ðà đã từng phát nguyện nên tự nhiên được vãng sanh không sai!

(Trích: TUYẾT LƯ LÃO NHÂN TỊNH ÐỘ TUYỂN TẬP)
Read More
      edit

Thứ Hai, 31 tháng 3, 2014

Published tháng 3 31, 2014 by ana03 with 0 comment

Con ăn nhiều và ngủ cũng nhiều. Nhưng tại sao khi hành thiền con vẫn càm thấy buồn ngủ và cảm thấy đói bụng vào ban đêm?


Trả lời: Buồn ngủ xảy ra do các nguyên nhân khác nhau, có khi thuộc về thân, có khi thuộc về tâm. Đối với các nguyên nhân thuộc về thân, ngủ có thể là do sự không quân bình của tứ đại trong cơ thể của hành giả. Khi địa đại (yếu tố đất) hoặc thủy đại quá mạnh, hành giả cảm thấy buồn ngủ vì hai đại này có bản chất nặng nề. Ngược lại, khi hỏa đại và phong đại mạnh hơn, hành giả cảm thấy khó rơi vào giấc ngủ. Tứ đại trong thân của chúng ta luôn luôn thay đổi. Chúng ta không thể trông đợi chúng lúc nào cũng ở trong trạng thái quân bình và hòa hợp được, đặc biệt là khi chúng tat hay đổi sang một môi trường hoặc nếp sống mới. Tuy nhiên, sự không quân bình ấy thường chỉ tạm thời. Thân tự nó sẽ điều chỉnh. Để ngăn rơi vào giấc ngủ trong lúc hành thiền, hành giả có thể ngủ một lát sau bữa ăn (trước khi hành thiền).

Đối với các nguyên nhân thuộc về tâm, khi tâm hành giả không đủ nghị lực, hành giả sẽ bị áp đảo bởi hôn trầm –thụy miên. Cách thức để đương đầu với hôn trầm –thụy miên là khơi dậy nghị lực, tinh tấn và thích thú trong việc hành thiền. Hành giả có thể nghĩ đến cái khổ của sanh, lão, bệnh, tử; cái khổ của bốn ác đạo, của vòng tử sanh trong quá khứ và tương lai để đánh thức sự kinh cảm (ý nghĩa của sự khẩn cấp tâm linh) cho việc hành thiền. Hoặc hành giả có thể nghĩ đến những lợi ích to lớn có được từ việc hành Pháp (Dhamma): như có được hiện tại lạc trú, một sanh thú an vui trong tương lai và sự giải thoát tối hậu khỏi mọi khổ đau. Nhờ suy nghĩ theo cách này, hành giả có thể khơi dậy tinh tấn lực và sự thích thú trong hành thiền. Hành giả cũng có thể áp dụng bảy cách mà chúng tôi đã giới thiệu để loại trừ cơn buồn ngủ, như xoa mặt mũi, tay chân và thân thể, nhìn ánh sáng, đứng dậy, rửa mặt và đi kinh hành. Dần dần rồi hành giả sẽ thành công trong việc phát triển định càng lúc càng sâu hơn và có thể vượt qua cơn buồn ngủ.

Cảm giác đói bụng là do chất lửa giúp cho sự tiêu hóa quá mạnh trong cơ thể hành giả. Khả năng khác là hành giả chưa quen với nếp sống không ăn chiều. Dần dần hành giả sẽ quen với nếp sống không ăn chiều này và cảm thấy bình thường.

Trong đời sống hàng ngày, chúng ta phải thực hành như thế nào để làm cho thân, khẩu và ý của chúng ta được trong sạch.

Trả lời: Trong đời sống hàng ngày, chúng ta phải luôn luôn tưởng nhớ đến Phật- Pháp (Buddha –Dhamma), và nhận thấy rõ lợi ích của Phật – Pháp. Việc làm này sẽ giúp chúng ta tịnh hóa dần dần những hành động của thân, khẩu, và ý của chúng ta. Kế đó chúng ta sẽ dùng sự hiểu biết của Phật – Pháp này để thực hành Giới Định Tuệ cho đến mức có thể.

Chẳng hạn, chúng ta phải phòng hộ sáu căn – mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và tâm của chúng ta. Phải cẩn thận không để các cảnh cần lôi đi. Đức Phật cũng dạy cho chúng ta bốn thiền bảo hộ. Chúng ta có thể áp dụng chúng trong pháp hàng ngày của chúng ta.

Bốn thiền bảo hộ nói đến thiền tâm từ, niệm tưởng ân Đức Phật, quán bất tịnh và niệm tưởng sự chết. Tâm từ được thực hành khi cảm giác sân hận phát sanh và trở nên mạnh mẽ. Tùy niệm Phật được thực hành khi đức tin chúng ta suy giảm. Quán bất tịnh được thực hành khi tâm tham của chúng ta trổi dậy và trở nên mạnh mẽ. Niệm tưởng sự chết được thực hành khi chúng ta có khuynh hướng lười biếng. Khi niệm tưởng sự chết, sợ hãi sẽ phát sanh và nó nhắc chúng ta nhớ đến cái chết, một điều sớm muộn gì cũng đến với mọi người, do đó chúng ta sẽ cố gắng hành thiền.

Chúng ta phải duy trì việc thực hành này hàng ngày, đó là, chúng ta phải ấn định thời gian ngồi thiền vào buổi sáng và buổi tối cho mình thật nghiêm ngặt. Lúc đó tâm của chúng ta sẽ trở nên càng ngày càng mạnh hơn. Khi tâm càng lúc càng trở nên mạnh hơn như vậy, những hành động của thân, khẩu và ý của chúng ta sẽ trở nên thanh tịnh hơn. Do đó chúng ta phải tiếp tuc thực hành theo cách này để làm trong sạch thân, khẩu và ý của chúng ta trong đời sống hàng ngày.

Nếu một người được lợi nhờ trốn thuế và giúp những người khác trốn thuế, họ có phạm tội trộm cắp không? Nếu một người tại gia cư sĩ phạm ngũ giới, họ phải sám hối và thọ trì giới lại như thế nào?

Trả lời: Theo Luật Tạng (Vinaya Pitaka), trốn thuế hay giúp người khác trốn thuế là một trong hai mươi lăm loại trộm cắp. Nếu một người làm điều đó, họ phạm tội trộm cắp bất kể họ là vị sư hay cư sĩ. Nếu một vị Tỳ kheo ăn cắp những tài sản đáng giá một pàda ( năm màsaka) hay hơn, vị ấy phạm một tội bất cọng trụ (Pàràjikà), và không còn là Tỳ kheo nữa.

Nếu một người cư sĩ phạm ngủ giới, họ kể như mất ngủ giới, nhưng không cần thiết cho họ để thú tội này. Tuy nhiên, họ nên quyết tâm để không phạm giới trở lại. Họ có thể nhận giới lại trước một Sa di, một vị Tỳ kheo, hay trước một bức tượng Phật, và rồi giữ gìn giới một cách cẩn thận.

Theo: Tứ Niệm Xứ tường giải

Pháp Thông (Thiền viện Phước Sơn)
Read More
      edit

Thứ Tư, 26 tháng 3, 2014

Published tháng 3 26, 2014 by ana03 with 0 comment

Vì Sao Trì Chú Không Linh Ứng

Tại sao có nhiều người Tụng Chú mà không có cảm ứng gì cả?
Đó là Vì Không Có Giữ Giới Thanh Tịnh.

Nhiều Người Không Hiểu Đúng Kinh Phật dạy nghe nói rằng Tụng Chú thì Tiêu Tội Giải Nghiệp nhưng lại không biết Đức Phật dạy là Tụng Chú là Tiêu Tội Cũ Giải Nghiệp Cũ chứ không phải là Vừa Trì Chú Vừa Tạo Nghiệp.
Trì Chú Mà Không Giữ Giới Thì Không Bao Giờ Có Sự Linh Ứng Thành Tựu Gì Cả.
Tất cả các Kinh Điển Mật Tông đều dạy Hành Giả Trì Chú Phải Giữu Giới Thanh Tịnh.
Không Giữ Giới Mà Trì Chú Thì Cũng Như Là Lấy Cái Ly Dơ Mà Đựng Nuớc Sạch.
Giới Là Căn Bản Của Tất Cả Mọi Sự Hành Trì Phật Pháp.
Không Giữ Giới Tu Gì Cũng Không Thành Tựu.
Read More
      edit

Thứ Ba, 25 tháng 3, 2014

Published tháng 3 25, 2014 by ana03 with 0 comment

Vì sao người lương thiện cả đời gặp nỗi buồn và trắc trở ?

Tôi đã tìm một người thầy thông thái và đạo hạnh xin chỉ bảo:

-Vì sao những người lương thiện như con lại thường xuyên cảm thấy khổ, mà những người ác lại vẫn sống tốt vậy?


Thầy hiền hòa nhìn tôi trả lời:

- Nếu một người trong lòng cảm thấy khổ, điều đó nói lên rằng trong tâm người này có tồn tại một điều ác tương ứng. Nếu một người trong nội tâm không có điều ác nào, như vậy, người này sẽ không có cảm giác thống khổ. Vì thế, căn cứ theo đạo lý này, con thường cảm thấy khổ, nghĩa là nội tâm của con có tồn tại điều ác, con không phải là một người lương thiện thật sự. Mà những người con cho rằng là người ác, lại chưa hẳn là người thật sự ác. Một người có thể vui vẻ mà sống, ít nhất nói rõ người này không phải là người ác thật sự.

Có cảm giác như bị xúc phạm, tôi không phục, liền nói:

-Con sao có thể là người ác được? Gần đây, tâm con rất lương thiện mà!

Thầy trả lời:

-Nội tâm không ác thì không cảm thấy khổ, con đã cảm thấy khổ, nghĩa là trong tâm con đang tồn tại điều ác. Con hãy nói về nỗi khổ của con, ta sẽ nói cho con biết, điều ác nào đang tồn tại trong con.

Tôi nói:

-Nỗi khổ của con thì rất nhiều! Có khi cảm thấy tiền lương thu nhập rất thấp, nhà ở cũng không đủ rộng, thường xuyên có “cảm giác thua thiệt” bởi vậy trong tâm con thường cảm thấy không thoải mái, cũng hy vọng mau chóng có thể cải biến tình trạng này; trong xã hội, không ít người căn bản không có văn hóa gì, lại có thể lưng quấn bạc triệu, con không phục; một trí thức văn hóa như con, mỗi tháng lại chỉ có một chút thu nhập, thật sự là không công bằng; người thân nhiều lúc không nghe lời khuyên của con, con cảm thấy không thoải mái…

Cứ như vậy, lần lượt tôi kể hết với thầy những nỗi thống khổ của mình.

Thầy gật đầu, mỉm cười, một nụ cười rất nhân từ đôn hậu, người từ tốn nói với tôi:

- Thu nhập hiện tại của con đã đủ nuôi sống chính con và gia đình. Con còn có cả phòng ốc để ở, căn bản là đã không phải lưu lạc nơi đầu đường xó chợ, chỉ là diện tích hơi nhỏ một chút, con hoàn toàn có thể không phải chịu những khổ tâm ấy.

- Nhưng, bởi vì nội tâm con có lòng tham đối với tiền tài và của cải, cho nên mới cảm thấy khổ. Loại lòng tham này là ác tâm, nếu con có thể vứt bỏ ác tâm ấy, con sẽ không vì những điều đó mà cảm thấy khổ nữa.- Trong xã hội có nhiều người thiếu văn hóa nhưng lại phát tài, rồi con lại cảm thấy không phục, đây chính là tâm đố kị. Tâm đố kị cũng là một loại ác tâm. Con tự cho mình là có văn hóa, nên cần phải có thu nhập cao, đây chính là tâm ngạo mạn. Tâm ngạo mạn cũng là ác tâm. Cho rằng có văn hóa thì phải có thu nhập cao, đây chính là tâm ngu si; bởi vì văn hóa không phải là căn nguyên của sự giàu có, kiếp trước làm việc thiện mới là nguyên nhân cho sự giàu có của kiếp này. Tâm ngu si cũng là ác tâm!

- Người thân không nghe lời khuyên của con, con cảm thấy không thoải mái, đây là không rộng lượng. Dẫu là người thân của con, nhưng họ vẫn có tư tưởng và quan điểm của riêng mình, tại sao lại cưỡng cầu tư tưởng và quan điểm của họ bắt phải giống như con? Không rộng lượng sẽ dẫn đến hẹp hòi. Tâm hẹp hòi cũng là ác tâm.

Sư phụ tiếp tục mỉm cười:

- Lòng tham, tâm đố kỵ, ngạo mạn, ngu si, hẹp hòi, đều là những ác tâm. Bởi vì nội tâm của con chứa đựng những ác tâm ấy, nên những thống khổ mới tồn tại trong con. Nếu con có thể loại trừ những ác tâm đó, những thống khổ kia sẽ tan thành mây khói.”

- Con đem niềm vui và thỏa mãn của mình đặt lên tiền thu nhập và của cải, con hãy nghĩ lại xem, căn bản con sẽ không chết đói và chết cóng; những người giàu có kia, thật ra cũng chỉ là không chết đói và chết cóng. Con đã nhận ra chưa, con có hạnh phúc hay không, không dựa trên sự giàu có bên ngoài, mà dựa trên thái độ sống của con mới là quyết định. Nắm chắc từng giây phút của cuộc đời, sống với thái độ lạc quan, hòa ái, cần cù để thay thế lòng tham, tính đố kỵ và ích kỷ; nội tâm của con sẽ dần chuyển hóa, dần thay đổi để thanh thản và bình an hơn.

-Trong xã hội, nhiều người không có văn hóa nhưng lại giàu có, con hãy nên vì họ mà vui vẻ, nên cầu chúc họ càng giàu có hơn, càng có nhiều niềm vui hơn mới đúng. Người khác đạt được, phải vui như người đó chính là con; người khác mất đi, đừng cười trên nỗi đau của họ. Người như vậy mới được coi là người lương thiện! Còn con, giờ thấy người khác giàu con lại thiếu vui, đây chính là tâm đố kị. Tâm đố kị chính là một loại tâm rất không tốt, phải kiên quyết tiêu trừ!”

- Con cho rằng, con có chỗ hơn người, tự cho là giỏi. Đây chính là tâm ngạo mạn. Có câu nói rằng: “Ngạo mạn cao sơn, bất sinh đức thủy” (nghĩa là: ngọn núi cao mà ngạo mạn, sẽ không tạo nên loại nước tốt) người khi đã sinh lòng ngạo mạn, thì đối với thiếu sót của bản thân sẽ như có mắt mà không tròng, vì vậy, không thể nhìn thấy bản thân có bao nhiêu ác tâm, sao có thể thay đổi để tốt hơn. Cho nên, người ngạo mạn sẽ tự mình đóng cửa chặn đứng sự tiến bộ của mình. Ngoài ra, người ngạo mạn sẽ thường cảm thấy mất mát, dần dần sẽ chuyển thành tự ti. Một người chỉ có thể nuôi dưỡng lòng khiêm tốn, luôn bảo trì tâm thái hòa ái từ bi, nội tâm mới có thể cảm thấy tròn đầy và an vui.

-Kiếp trước làm việc thiện mới chính là nguyên nhân cho sự giàu có ở kiếp này, (trồng dưa được dưa, trồng đậu được đậu). Mà người thường không hiểu được nhân quả, trồng dưa lại muốn được đậu, trồng đậu lại muốn được dưa, đây là thể hiện của sự ngu muội. Chỉ có người chăm học Phật Pháp, mới có được trí huệ chân chính, mới thật sự hiểu được nhân quả, quy luật tuần hoàn của vạn vật trong vũ trụ, nội tâm mới có thể minh tỏ thấu triệt. Để từ đó, biết làm thế nào lựa chọn tư tưởng, hành vi và lời nói của mình cho phù hợp. Người như vậy, mới có thể theo ánh sáng hướng đến ánh sáng, từ yên vui hướng đến yên vui.”

-Bầu trời có thể bao dung hết thảy, nên rộng lớn vô biên, ung dung tự tại; mặt đất có thể chịu đựng hết thảy, nên tràn đầy sự sống, vạn vật đâm chồi! Một người sống trong Thế giới này, không nên tùy tiện xem thường hành vi và lời nói của người khác. Dẫu là người thân, cũng không nên mang tâm cưỡng cầu, cần phải tùy duyên tự tại! Vĩnh viễn dùng tâm lương thiện giúp đỡ người khác, nhưng không nên cưỡng cầu điều gì.

-Nếu tâm một người có thể rộng lớn như bầu trời mà bao dung vạn vật, người đó sao có thể khổ đây?

Vị thầy khả kính nói xong những điều này, tiếp tục nhìn tôi với ánh mắt đầy nhân từ và bao dung độ lượng.

Ngồi im lặng hồi lâu…xưa nay tôi vẫn cho mình là một người rất lương thiện, mãi đến lúc này, phải! chỉ đến lúc này, tôi mới biết được trong tôi còn có một con người rất xấu xa, rất độc ác! Bởi vì nội tâm của tôi chứa những điều ác, nên tôi mới cảm thấy nhiều đau khổ đến thế. Nếu nội tâm của tôi không ác, sao tôi có thể khổ chứ?

Xin cảm tạ thầy, nếu không được người khai thị dạy bảo, con vĩnh viễn sẽ không biết có một người xấu xa như vậy đang tồn tại trong con!

(ST)
Read More
      edit